16/7/18

Người phụ nữ Nam Kỳ ra Huế kêu oan cho chồng - Vĩnh Thông

Dưới triều vua Tự Đức, có một người phụ nữ từ Nam Kỳ lặn lội ra đến kinh thành Huế để kêu oan cho chồng. Không những chồng được minh oan, mà bản thân bà còn được vua Tự Đức ban thưởng và thái hậu Từ Dũ tặng bảng vàng “Liệt phụ khả gia”. Việc làm của người phụ nữ nầy đến nay vẫn còn được người đời sau không ngớt ngợi ca. Nhân vật đó là bà Nguyễn Thị Tồn, vợ của nhà thơ Bùi Hữu Nghĩa.

Bà Nguyễn Thị Tồn (không rõ năm sanh) còn có tên trong gia đình là Diệu, quê ở thôn Mỹ Khánh, tổng Chánh Mỹ Thượng, huyện Phước Chánh, phủ Phước Long, trấn Biên Hòa (nay là phường Bửu Hòa, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai). Thân phụ của bà là ông Nguyễn Văn Lý, làm chức quan trông coi thuế ở địa phương, gọi là Bạch đàm hộ trưởng.

Chồng bà là nhà thơ Bùi Hữu Nghĩa (1807 - 1872), hiệu Chi Nghi, quê ở thôn Long Tuyền, tổng Định Thới, huyện Vĩnh Định, phủ Định Viễn, trấn Vĩnh Thanh (nay là phường An Thới, quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ). Thuở thiếu thời, cậu học trò Bùi Hữu Nghĩa tìm đến Biên Hòa tham học với thầy Nguyễn Phạm Hàm (dân gian gọi là thầy đồ Hoành) và xin ở trọ tại nhà ông Nguyễn Văn Lý. Năm 1835, Bùi Hữu Nghĩa đậu Giải nguyên (thủ khoa) kỳ thi Hương ở Gia Định. Người Đồng Nai đến nay vẫn còn truyền tụng câu ca dao:

“Đồng Nai có bốn rồng vàng

Lộc họa, Lễ phú, Sang đàn, Nghĩa thi”

Năm 1836, Bùi Hữu Nghĩa tham dự kỳ thi Hội ở kinh đô nhưng không đậu, được bổ về làm Tri huyện Phước Chánh, phủ Phước Long, tỉnh Biên Hòa. Ông Nguyễn Văn Lý mến tài của cậu học trò từng trọ học ở nhà mình, nên đã gả trưởng nữ là Nguyễn Thị Tồn cho Bùi Hữu Nghĩa. Một thời gian sau, Bùi Hữu Nghĩa được đổi về làm Tri huyện Trà Vang, phủ Lạc Hóa, tỉnh Vĩnh Long.

Năm 1848, xảy ra vụ việc người Khmer xô xát với người Hoa ở rạch Láng Thé. Vốn dĩ trước đó, con rạch nầy là nơi người Khmer khai thác thủy sản lâu đời và được triều đình miễn thuế. Tuy nhiên, một số người Hoa đã lo lót cho quan địa phương để được độc quyền khai thác. Người Khmer phẫn uất đến trình với Tri huyện Bùi Hữu Nghĩa, ông phán xử phần thắng nghiêng về người Khmer. Tuy nhiên, sau đó vụ xô xát đã xảy ra. Sẵn có hiềm khích riêng với Bùi Hữu Nghĩa, nhân việc nầy một số quan chức địa phương đã buộc tôi ông là xúi giục nổi loạn và bắt giam ông.



Tranh bà Nguyễn Thị Tồn đánh trống kêu oan (Ảnh: Internet)

Khi hay tin, bà Nguyễn Thị Tồn quá giang ghe bầu vượt biển ra Huế. Qua bao sóng gió trong những tháng ngày lênh đênh trên biển, cuối cùng bà đến được kinh đô. Bà tìm đến Hiệp biện Đại học sĩ Phan Thanh Giản, bấy giờ là Lại bộ Thượng thư, Cơ Mật viện đại thần. Sau khi lắng nghe sự việc, cụ Phan đã tận tình giúp đỡ, viết cho bà tờ cáo trạng để trình lên vua, đồng thời hướng dẫn bà đến Tam pháp ty.

Tam pháp ty là tòa án tối cao của triều Nguyễn, hằng tháng mở hội đồng xét xử vào ba ngày cố định là 6 - 16 - 26 âm lịch. Nếu vụ việc khẩn cấp không đợi được ba ngày ấy, người tố cáo có quyền đánh chiếc trống lớn trước cửa Tam pháp ty để cầu minh xét. Sau khi tiếp nhận cáo trạng về sự lộng hành và nhũng nhiễu của quan lại tỉnh Vĩnh Long, vua Tự Đức đã sai Hình bộ điều tra sự việc. Sau thời gian thẩm án, Bùi Hữu Nghĩa được miễn chết, nhưng phải sung quân trấn giữ vùng biên ải để lấy công chuộc tội.

Cảm khái trước việc làm của Nguyễn Thị Tồn, vua Tự Đức ban tặng bà chiếc võng điều có bốn lọng, giữ bà lại kinh thành một tháng để triều thần và các cung phi được gặp gỡ người phụ nữ quả cảm, nhằm nêu gương sáng cho mọi người. Không chỉ thế, Thái hậu Từ Dũ truyền bà vào gặp mặt, hết lời khen ngợi và ban tặng tấm biển son chạm bốn chữ thếp vàng “Liệt phụ khả gia”.

Chỉ dụ của nhà vua ban xuống, Bùi Hữu Nghĩa được ra khỏi tù, đi làm lính ở huyện Hà Âm, phủ Tĩnh Biên, tỉnh An Giang. Đây là vùng đất biên thùy, núi non và rừng rậm hiểm trở, được ông mô tả lại qua những dòng thơ như: “Gió trốt dật dờ nơi chiến lũy / Ðèn trơi leo lét dặm u lâm”. Chồng thoát khỏi oan án nhưng chưa được về nhà thì bà Nguyễn Thị Tồn đã lâm bệnh rồi qua đời ở quê nhà Biên Hòa vào ngày 24 tháng 11 âm lịch (không rõ năm mất).

Sự việc nầy làm Bùi Hữu Nghĩa vô cùng đau đớn, khóc vợ bằng lời những lời văn tế bi thiết: “Cây dương liễu là tên ly biệt, trời dành cho em những điều tài sắc, mà mong sửa cuộc đoàn viên / Huê phù dung là giống đoạn tràng, trời sắm cho em những miếng thanh danh, mà mỡ báo nền phước lý.” Ông không quên nhắc lại lòng quả cảm của vợ: “Nơi kinh quốc ba hồi trống gióng, biện bạch này oan nọ ức, đấng hiền lương mắt thấy thảy đau lòng / Chốn tỉnh đường một tiếng thét vang, hẳn hòi lẽ chánh lời nghiêm, lũ bạn đảng tai nghe đà khiếp vía.” Thậm chí, Bùi Hữu Nghĩa quy cái chết của vợ do mình gián tiếp gây ra: “Anh để nàng chẳng bằng tiền bằng của, mà bằng cái tư lương / Anh giết nàng chẳng bằng gươm bằng đao, mà bằng cái khổ luỵ.”

Ngoài ra, ông còn viết tặng bà câu đối chữ Hán: “Ngã bần, khanh năng trợ. Ngã oan, khanh năng minh. Triều dã giai xưng khanh thị phụ / Khanh bệnh, ngã bất dược. Khanh tử, ngã bất táng. Giang sơn ưng tiếu ngã phi phu.” Tạm dịch: Ta nghèo, mình hay giúp đỡ. Ta tội, mình biết kêu oan. Triều đình khen mình mới xứng là vợ. Mình bệnh, ta không thuốc thang. Mình chết, ta không chôn cất. Non sông cười ta chẳng đáng là chồng.

Có thể nói, cuộc đời của bà Nguyễn Thị Tồn đã ảnh hưởng rất lớn đến con đường công danh và sự nghiệp văn thơ của Bùi Hữu Nghĩa. Sanh ra và lớn lên trên mảnh đất Nam Kỳ vốn nổi tiếng là vùng đất của những người phụ nữ dịu dàng, kiên trinh, hào hiệp, Nguyễn Thị Tồn đã tiếp nối truyền thống ấy và để lại một hình mẫu về người phụ nữ đất phương Nam thủy chung, sẵn sàng hy sinh, nhưng cũng đầy bản lãnh. 


VĨNH THÔNG
(Bài đăng trên Báo Cần Thơ)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét