26/5/20

Địa danh Nhà Bàn hay Nhà Bàng? - Trịnh Bửu Hoài

Thị trấn Nhà Bàng được thành lập theo Quyết định số 56-QĐ/HĐBT do Chính phủ ký ngày 10 tháng 5 năm 1986, chính thức trở thành một đơn vị hành chánh của Tịnh Biên, một huyện biên giới và miền núi của tỉnh An Giang, nằm về phía tây nam Tổ quốc. Tịnh Biên cùng với huyện Tri Tôn là vùng đồi núi hiếm hoi giữa đồng bằng sông Cửu Long bao la bát ngát, tạo nên những cảnh quan đặc thù khi vừa có núi, có rừng lại có đồng ruộng, vườn cây và sông rạch.
Trước khi thành lập thị trấn, Nhà Bàn chỉ là địa danh, thuộc xã Thới Sơn huyện Tịnh Biên, nhưng là một địa danh nổi tiếng ở khu vực biên cương nầy vì chợ Nhà Bàn nằm ngay ngã ba đường. Một ngả đi về Tri Tôn dọc theo chân dãy Thất Sơn trùng điệp, qua dốc Bà Đắc, Mương Tiền và rừng tràm Trà Sư; qua núi Kéc (*) (Anh Vũ Sơn), núi Cấm (Thiên Cấm Sơn), núi Bà Đội Om… Một ngả đi lên cửa khẩu Việt Nam – Campuchia qua núi Trà Sư, núi Cậu, kinh Vĩnh Tế và hiện nay là huyện lỵ.
Ngoại trừ những năm chiến tranh ác liệt, chợ Nhà Bàn luôn sầm uất với các nguồn đặc sản miền núi phong phú, đa dạng và độc đáo như các loại gạo ruộng trên (lúa Sóc), rau củ quả Thất Sơn, thuốc núi (thuốc Nam), đường thốt-nốt… Nhà Bàn còn là cửa ngõ của vùng Thất Sơn nếu đi từ hướng Châu Đốc, nên khách hành hương, du lịch đi núi Cấm, núi Kéc, núi Trà Sư, rừng tràm Trà Sư, cửa khẩu Tịnh Biên… đều phải qua Nhà Bàn và thường ghé chợ mua đặc sản miền núi.
Khi huyện Bảy Núi tách ra thành hai huyện Tri Tôn và Tịnh Biên vào ngày 23 tháng 8 năm 1979, Nhà Bàn là huyện lỵ, cách thành phố Châu Đốc 17 cây số và cách cửa khẩu quốc tế Tịnh Biên khoảng 5 km, nên rất thuận lợi cho sự giao thương và phát triển kinh tế, văn hóa, du lịch. Từ sự phát triển nầy, năm 1986 thị trấn Nhà Bàng được thành lập gồm 227 hecta, 4.673 nhân khẩu của xã Thới Sơn và 311 hecta, 2.548 nhân khẩu của xã Nhơn Hưng. Nhà Bàn trở thành một đơn vị hành chánh với tên chính thức là Nhà Bàng.
Từ năm 1986 trở về trước, tức là khi chưa thành lập thị trấn, hầu hết các thông tin trên báo chí, văn kiện, bảng chỉ dẫn, cột cây số, nhà lồng chợ, tác phẩm văn học nghệ thuật, địa phương chí đều được viết là Nhà Bàn khi nhắc tới địa danh nầy. Trong quyển Nam kỳ phong tục nhơn vật diễn ca của Nguyễn Liên Phong viết theo thể loại văn vần, do Đinh Thái Sơn xuất bản, nhà in Phát Toán ấn hành tại Sài Gòn năm 1909, trong phần viết về Châu Đốc có đoạn như sau:
… Trà Sư cho đến núi Giài
Dân cư rẫy ruộng lúa khoai đầy đường
Đốc Công tạo lập sở vườn
Thanh hoa đẳng vật coi thường vẻ vang
Cất bên một cái nhà bàn
Để khi ăn uống nghỉ an luận bàn
Sau lập chợ phố hai hàng
Người đều kêu chợ Nhà Bàn thành danh…
Còn nhà biên khảo Nguyễn Văn Hầu trong cuốn du khảo Nửa tháng trong miền Thất Sơn, do Hương Sen xuất bản năm 1970, chương bảy với tiêu đề Thới Sơn – một nông trại, có đoạn như sau:
“- Tại sao gọi là Nhà Bàng? Danh từ nầy có ảnh hưởng gì tới tiếng Miên không?
- Nhà Bàng là tiếng Việt thuần túy đấy. Nghe nói trước kia, khi chưa lập chợ, tại đây có một ngôi nhà sản xuất nhiều đệm bàng. Người ta cắt dây bàng về thật nhiều, đập cho dẹp lại như láng bố, rồi dệt thành đệm để phơi lúa, chầm nóp hoặc trải ra mà nằm thay cho chiếu. Sau khi mở chợ, người ta vẫn quen gọi như vậy luôn, nên thành danh là vùng Nhà Bàng.”
Năm 1973, nhà xuất bản Khai Phá ấn hành cuốn Biên thùy truyện ký của nhà biên khảo Liêm Châu, xin trích một đoạn trong bài Ông Cao Nhà Bàn:
“… Trước hết phải phân tách địa danh Nhà Bàn. Cách Châu Đốc 17 cây số trên đường đi vào dãy Thất Sơn là xã Thới Sơn nằm dưới chân núi Trà Sư. Xã nầy còn mang thêm tên Nhà Bàn. Theo Địa phương chí thì chỗ nầy trước đây thành lập một vườn ương cây (pépinière) của người Pháp do Sở Kiểm lâm quản trị. Trong vườn ương cây, họ cất một căn nhà rộng rãi để cho dân phu trưa vào đó ăn cơm và nằm nghỉ. Sau lần lần dân chúng qui tụ cất nhà lập chợ và nhắm vào hình ảnh hiển nhiên ở địa phương mà đặt thành tên. Danh từ Nhà Bàn khai sanh từ đó.”
Gần nhất, trong cuốn Lịch sử An Giang, nhà xuất bản Tổng hợp An Giang in năm 1988, nhà văn Sơn Nam viết:
“Năm 1885, tay kinh doanh Gạt-xơ-ri (Garcerie) đưa những bè súc từ Campuchia về Tân Châu, để lập một trại cưa máy. Tên Măn-xê (Manset) lập sở trồng cây ăn trái và cây kỹ nghệ ở khu vực “Nhà bàn”. Bàn là bàn ăn cơm tập thể, cho lao công ngồi tạm.”
Ngoài ra, còn có người nói nơi nầy có cây bàng nên gọi là Nhà Bàng. Hoặc chợ Nhà Bàn do một người phụ nữ tên Thị Bàn thành lập nên lấy tên bà đặt cho chợ để kỷ niệm. Hai giả thuyết nầy đều không thuyết phục.
Gần đây, một số bài viết đăng trên vài tờ báo ở địa phương và thành phố Hồ Chí Minh đề cập đến địa danh Nhà Bàn. Có ý kiến ngã về chữ Nhà Bàn, có ý kiến cho rằng Nhà Bàng là đúng hơn. Riêng tôi, khẳng định là từ Nhà Bàn. Vì sao? Nhà bàn là nhà ăn tập thể, là căn nhà có nhiều bàn ăn để nhiều người cùng vào ăn một lúc. Từ nhà bàn rất thông dụng trước 1975, bởi ở các công sở có nhiều công chức, lao động; doanh trại có nhiều người sinh hoạt tập thể, nhất là các trung tâm huấn luyện của quân đội chế độ Sài Gòn, người ta cất “sam” lớn, những ngôi nhà rất rộng, trong đó đặt những dãy bàn ăn và băng ghế ngồi có thể chứa từ vài chục cho đến vài trăm người đến ăn cơm tập thể, gọi là nhà bàn.
Theo tài liệu để lại vào cuối thế kỷ 19, người Pháp đến khu vực nầy mở sở điền trồng cây, lập vườn ương cây thì tất nhiên phải thu nhiều nhân công và cất lên một ngôi nhà lớn làm nhà ăn tập thể cho công nhân lao động, đó là nhà bàn. Khi có việc cần bàn hoặc hội họp đông người, kể cả công nhân tìm chỗ nghỉ trưa, vào nhà bàn nầy là phù hợp. Giữa một vùng đất còn khá hoang vu đang được khai khẩn trồng trọt mà có một cái nhà bàn lớn như thế, đương nhiên nổi bật, gây sự chú ý cho dân địa phương và người qua lại, rồi gọi miết thành địa danh. Khi lập chợ mua bán đông đảo mọi người gọi là chợ Nhà Bàn là thuận tiện, hợp lý nhất.
Còn từ Nhà Bàng? Đúng là lúc bấy giờ xung quanh vùng đất núi nầy còn nhiều nơi phèn đọng và mọc hoang rất nhiều cỏ bàng, đưng, lác. Tận dụng ưu thế nầy người dân địa phương đi cắt cọng bàng về giã cho dẹp, phơi khô đương đệm để bán ra các vùng lân cận tăng thu nhập. Nghề nầy tạo công ăn việc làm cho cả xóm và lan rộng nhiều nơi, đến tận vùng Vĩnh Gia, Vĩnh Điều chớ không riêng ở Nhà Bàn. Ban đầu đệm được dùng để trải ngủ hoặc phơi lúa, dần dần người ta sáng kiến may thành chiếc nóp để chống muỗi, khi đi đồng cuộn tròn mang theo rất tiện lợi, có thể trải ngủ bất cứ nơi đâu, trên đất ruộng, thềm đìa hoặc trên ghe, xuồng… Sau đó người ta chế ra giỏ xách, cặp, nón, bao ống tay cắt lúa… bằng đệm bàng. Nghề nầy thịnh hành cho đến sau năm 1975 và hiện nay còn một hợp tác xã chuyên sản xuất đệm bàng ở huyện Giang Thành, Kiên Giang. Vì vậy, có người nghĩ địa danh Nhà Bàng xuất xứ từ một ngôi nhà chứa bàng tại đây. Nhưng, ở Tịnh Biên và các vùng lân cận, khi vựa chứa, tích trữ một món hàng gì người ta không gọi là “nhà” mà gọi là “vựa”. Ví dụ như có nhà mua lá dừa nước về vựa lại để chằm lá bán cho người ta lợp nhà hoặc dừng vách thì gọi là vựa lá. Nhà chứa củi để bán gọi là vựa củi, chứa cây tràm gọi là vựa tràm, chứa cây tre gọi là vựa tre, thu mua cá để bán đi nơi khác gọi là vựa cá, tích trữ gạo gọi là vựa gạo… chớ không ai gọi là nhà lá, nhà củi, nhà tràm, nhà tre, nhà cá, nhà gạo… cả. Vì vậy, nếu ngôi nhà chứa bàng nầy có thật, người địa phương cũng không bao giờ gọi là “nhà bàng” mà gọi là “vựa bàng”, hoặc rộng hơn là “xóm bàng”, nên địa danh Nhà Bàng là không có thật.
Khi đề nghị thành lập thị trấn mang tên Nhà Bàng, dùng địa danh dân gian để đặt tên cho một đơn vị hành chánh là rất hay và ý nghĩa, nhưng có lẽ địa phương dựa vào sự giải thích của nhà biên khảo Nguyễn Văn Hầu trong cuốn Nửa tháng trong miền Thất Sơn và nghĩ rằng ngày xưa nơi đây có nhiều nhà chứa đệm bàng nên thấy tên nầy là hợp lý. Bây giờ đã trở thành một đơn vị hành chánh thể hiện trên nhiều công văn, giấy tờ; muốn sửa đổi không phải dễ vì sẽ kéo theo nhiều phức tạp trên các giấy tờ tùy thân và văn kiện. Nhưng nếu không sửa, ta lại chấp nhận một sự giải thích sai với sự thật và cái sai nầy kéo dài mãi mãi, làm cho người đời sau hiểu nhầm về sự ra đời của một địa danh nổi tiếng ở địa phương. Và ý nghĩa của việc lấy địa danh dân gian đặt tên cho thị trấn cũng chẳng còn ý nghĩa gì nữa.

TRỊNH BỬU HOÀI
______________________________
(*) Núi Kéc có người viết là núi Két. 
- Theo Từ điển Việt Nam do Ban Tu thư Khai Trí biên soạn, Nhà sách Khai Trí xuất bản tại Sài Gòn năm 1971, giải thích như sau: “Kéc: Loài chim vẹt, keo. Két: Tiếng gỗ rít vào nhau. Giống keo (cũng viết kéc)”. 
- Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội ấn hành năm 1988, giải nghĩa: “Kéc: Loài chim vẹt lớn. Két: xem mòng két. Mòng két: Chim có hình dạng như vịt nhưng nhỏ hơn, sống ở phương Bắc, mùa đông di cư về miền ấm hơn”. 
- Trong Từ điển chính tả tiếng Việt thông dụng do Bùi Đức Tịnh biên soạn, Nhà xuất bản Thuận Hóa in năm 1998, viết rằng: “Kéc: Con kéc, nói như kéc. Két: Két két, cót két, ken két, chim mòng két”. 
Vì vậy, hình tượng con chim kéc quen thuộc với người miền Nam và gần gũi với sự liên tưởng của người dân địa phương hơn là con chim mòng két nên tôi chọn chữ núi Kéc.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét