12/4/23

Quan điểm cư sĩ đắc Thánh quả trong Kinh Milinda vấn đạo - Vĩnh Thông

Kinh Milinda vấn đạo (Milindapañhā) là tác phẩm ghi lại những cuộc hỏi đáp về Phật pháp giữa vua Milinda (Mi-lan-đà) và Tỳ-kheo Nāgasena (Na-tiên) có niên đại khoảng thế kỷ I trước Tây lịch. Nội dung các câu hỏi xoay quanh những vấn đề tinh yếu trong giáo lý của Đức Phật, được giải đáp qua những kiến giải trung thành với quan điểm nguyên thủy của Phật giáo. Do đó, kinh nầy được xem là tác phẩm quan trọng trong nghiên cứu Phật học. Ở Việt Nam, Kinh Milinda vấn đạo được phổ biến với hai phiên bản là Kinh Na-tiên Tỳ-kheo trong Bắc tạng và Kinh Mi Tiên vấn đáp trong Nam tạng. Trong bài viết nầy, chúng tôi sử dụng dữ liệu từ Kinh Mi Tiên vấn đáp.

Tỳ-kheo (tu sĩ nam), Tỳ-kheo-ni (tu sĩ nữ), ưu-bà-tắc (cư sĩ nam), ưu-bà-di (cư sĩ nữ) là bốn chúng trong đạo Phật. Mối quan hệ giữa người xuất gia và người tại gia là mối quan hệ khắng khít từ thời Đức Phật và kéo dài xuyên suốt lịch sử Phật giáo cho đến nay. Tuy nhiên trên thực tế, có những lúc mối quan hệ nầy không thể tránh khỏi nảy sinh những vấn đề phức tạp. Do đó, nó không chỉ được Đức Phật làm rõ trong kinh điển, mà tiếp tục được các thế hệ sau đề cập. Trong Kinh Milinda vấn đạo, có ít nhứt hai lần vấn đề cư sĩ đắc Thánh quả được nhắc đến trực tiếp, đó là câu hỏi “Bậc Thánh cư sĩ tại sao phải đảnh lễ, cúng dường phàm tăng” và câu hỏi “Về cư sĩ A-la-hán”.


1. Thánh cư sĩ cung kính phàm tăng

Vua Milinda đặt nghi vấn rằng, lời dạy của Đức Phật dường như có mâu thuẫn. Phật dạy người đắc pháp xuất thế gian xứng đáng được cõi trời và cõi người đảnh lễ và cúng dường, nhưng lại dạy cư sĩ đắc quả Tu-đà-hoàn vẫn phải đảnh lễ và cúng dường Tỳ-kheo bất kể Thánh hay phàm. Ngài Nāgasena giải đáp, Tỳ-kheo dù chưa chứng Thánh quả vẫn có hai mươi pháp hành cao thượng của bậc Sa-môn, cộng với hai pháp cao thượng thuộc về Tăng tướng, thực hành hai mươi hai pháp ấy có thể tiến lên các Thánh quả. Trong khi đó, cư sĩ dù đắc quả vẫn không có được các pháp cao thượng nầy.

Song, nhà vua tiếp tục băn khoăn, nếu vị Tỳ-kheo thực hành các pháp ấy nhưng chưa thành tựu đầy đủ, thậm chí thực hành hư hỏng, thì làm sao cư sĩ bậc Thánh lại cung kính được. Ngài Nāgasena trả lời, dẫu vị Tỳ-kheo như thế vẫn xứng đáng được cung kính, bởi họ đã thọ trì giới bổn thanh tịnh, có khả năng làm những việc mà cư sĩ bậc Thánh không làm được, đặc biệt là chính họ đang kế thừa hạt giống Bồ-đề.

Dẫu sự thực hành khiếm khuyết thì “họ vẫn đang trong Tăng tướng và phẩm mạo cao thượng; họ đang đi trên con đường phạm hạnh, họ ăn một bữa, họ thiểu dục, tri túc; họ thường sống nơi tịch mịch, xa chỗ huyên náo ồn ào, xa chỗ ngũ dục thấp hèn”. Trong khi đó, cư sĩ dù đắc quả nhưng “vẫn có gia đình với vợ và con, bạc tiền, của cải, danh vọng, địa vị, nghề nghiệp nuôi sống. Ta không cắt móng tay, không cạo râu tóc, vẫn trang điểm, vẫn thoa vật thơm, y phục lành tốt, thọ hưởng ngũ dục, ăn ngon, mặc ấm, giường cao, nhà rộng…” [1]

Chúng ta biết, cư sĩ có khả năng đắc quả là điều được xác nhận bởi chính Đức Thế Tôn và trong thời của Ngài đã có rất nhiều cư sĩ đắc quả. Phật cho biết, cư sĩ có thể đạt được quả vị Tu-đà-hoàn, tạo tiền đề để đi đến quả vị Chánh giác trong đời vị lai. Song, để đắc quả Tu-đà-hoàn, cư sĩ cần giữ gìn và thực hành năm pháp một cách hoàn hảo, đồng thời có được bốn tăng thượng tâm. Năm pháp là không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không uống rượu. Bốn tăng thượng tâm là niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, niệm giới.

Trong Kinh Ưu-bà-tắc (Kinh Trung A-hàm), Đức Phật giảng dạy rõ về điều kiện và kết quả mà cư sĩ có thể thực tập và đạt được: “Này Xá-lợi-phất, nếu Thầy biết rằng bạch y Thánh đệ tử gìn giữ, thực hành năm pháp một cách hoàn hảo và được bốn tăng thượng tâm, thì đối với hiện pháp lạc trú dễ được, chứ không phải khó được. Này Xá-lợi-phất, Thầy nên xác nhận rằng Thánh đệ tử này không còn đọa địa ngục, cũng không còn sanh vào loài súc sanh, ngạ quỷ và các chỗ ác, được quả Tu-đà-hoàn, không đọa ác pháp, nhất định thẳng tiến tới quả vị Chánh giác, tối đa chịu bảy lần sanh tử nữa, sau bảy lần qua lại cõi trời, nhân gian, liền được chấm dứt khổ đau.” [2]


2. Cư sĩ đắc quả A-la-hán

Cư sĩ không chỉ có khả năng đắc quả Tu-đà-hoàn, mà còn có thể đắc quả Tư-đà-hàm, A-na-hàm, thậm chí là A-la-hán. Trong thời Đức Phật, có những vị cư sĩ đắc quả A-la-hán. Tuy nhiên, khi một cư sĩ đắc quả A-la-hán vào ngày nào thì phải xuất gia ngay ngày đó. Trong trường hợp không xuất gia được vì lý do nào đó (chẳng hạn không tìm được thầy tế độ) thì vị ấy bắt buộc phải nhập Niết-bàn. Đây chính là thắc mắc của vua Milinda.

Để giải đáp nghi vấn nầy, ngài Nāgasena trả lời: “Phẩm mạo cư sĩ thấp thỏi quá, thật không xứng đáng với quả vị A-la-hán mà người ấy đã đắc, do vậy phải thay đổi phẩm mạo xuất gia. […] Chính phẩm mạo xuất gia như kẻ có đức, có trí, có tài, nhiều phước báu, mới xứng đáng với quả vị A-la-hán. Phẩm mạo xuất gia có thể được ví như một bảo cái lớn rộng, có khả năng che chở cho quả vị A-la-hán, tâu đại vương!” [3] Ngài ví dụ thêm, quả A-la-hán như món ăn thượng vị, mà phẩm mạo cư sĩ như một thể xác suy yếu, không đủ khả năng tiêu hóa thức ăn đó.

Quả thật, mặc dù người tại gia có khả năng thành tựu quả vị A-la-hán, nhưng khó khăn hơn rất nhiều so với người xuất gia. Đến khi đắc quả, vị cư sĩ phải xuất gia ngay hoặc nhập Niết-bàn. Nói cách khác, không thể có quả vị A-la-hán tồn tại lâu dài trong phẩm mạo cư sĩ. Trong lịch sử Phật giáo, có hai trường hợp tiêu biểu để chứng minh cho vấn đề nầy, đó là ngài Yasa (Da-xá) và vua Suddhōdana (Tịnh Phạn).

Chàng thanh niên Yasa là con của một triệu phú ở thành Bārāṇasī (Ba-la-nại), được nghe pháp từ Đức Phật và đắc quả Tu-đà-hoàn. Ông triệu phú đi tìm con và tiếp tục được Đức Thế Tôn giáo hóa. Sau khi nghe những lời Phật dạy cho cha mình, Yasa đắc quả A-la-hán và xin xuất gia. Ngài trở thành vị Tỳ-kheo thứ sáu trong Tăng đoàn, sau năm huynh đệ Koṇḍañña (Kiều-trần-như). [4]

Khi vua Suddhōdana lâm trọng bịnh, Đức Thế Tôn và các ngài Nanda, Ānanda, Rāhula cùng với chúng Tỳ-kheo trở về thành Kapilavatthu (Ca-tỳ-la-vệ) thăm viếng. Nhận thấy duyên lành để tiếp độ phụ vương, Đức Phật đã thuyết pháp cho nhà vua nghe trong bảy ngày. Đến ngày cuối cùng, vua Suddhōdana đắc quả A-la-hán và nhập Niết-bàn ngay trong hôm đó. [5]

Như vậy có thể thấy, ngài Yasa và vua Suddhōdana đều đắc quả A-la-hán khi chưa xuất gia. Sau khi đắc quả, ngài Yasa xuất gia trong ngày hôm ấy, vua Suddhōdana nhập Niết-bàn trong ngày hôm ấy, đúng như hai khuynh hướng mà kinh điển đã cho biết.


3. Một vài nhận định và liên hệ

Hai câu hỏi nêu trên phần nào cho thấy, từ buổi bình minh của Phật giáo, mối quan hệ giữa Tỳ-kheo và cư sĩ trong tu tập đã là vấn đề được quan tâm. Câu hỏi của vua Milinda chắc hẳn cũng là thắc mắc chung của nhiều người trong thời kỳ đó và đến cả ngày nay. Tuy nhiên, quan điểm của Phật giáo đã rất nhứt quán trong mối quan hệ nầy. Đạo Phật thừa nhận khả năng thành tựu các quả vị của cư sĩ, song sự đắc quả của cư sĩ khó khăn hơn rất nhiều so với Tỳ-kheo.

Khi cư sĩ đã đắc ba quả Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm thì vẫn phải cung kính, lễ bái, cúng dường Tỳ-kheo dù chưa đắc quả. Bởi Tỳ-kheo là người thọ giới thanh tịnh, sống đời phạm hạnh, lãnh trách nhiệm truyền bá chánh pháp. Khi cư sĩ đã đắc quả A-la-hán thì phải xuất gia hoặc nhập Niết-bàn ngay, không thể có người đắc quả A-la-hán mà vẫn mang hình tướng cư sĩ lâu dài. Mặc dù cư sĩ có khả năng đắc quả A-la-hán, nhưng đây là trường hợp đặc biệt, rất khó xảy ra. Phẩm mạo cư sĩ chỉ tương xứng với ba quả Hữu học. Trên thực tế thời Đức Phật, không có nhiều vị cư sĩ đắc quả A-la-hán, mà đa phần các vị cư sĩ đắc quả Tu-đà-hoàn.

Sở dĩ chúng tôi trình bày đề tài nầy, không chỉ dừng lại ở việc trao đổi về Kinh Milinda vấn đạo, mà còn có một số liên hệ đến thực tiễn Phật giáo Việt Nam ngày nay với hai biểu hiện cần lưu tâm.

Đối với Tăng Ni, có trường hợp một số vị lễ bái những cư sĩ được cho là “đắc quả”. Chúng ta biết, trong tín ngưỡng dân gian và một số tôn giáo phái sinh từ Phật giáo, có những vị cư sĩ tự xưng hoặc được truyền tụng là đã đắc quả. Với tình hữu nghị giữa các tôn giáo, Tăng Ni đến thăm viếng cơ sở tôn giáo bạn là việc làm tốt đẹp. Tuy nhiên, một số vị lễ bái trước bàn thờ, di ảnh, bài vị… của các cư sĩ nói trên. Đây là hành động chưa phù hợp với quan điểm nhà Phật.

Đối với cư sĩ, một số người có thái độ thiếu kính trọng Tăng Ni, thậm chí có người cực đoan cho rằng Tăng bảo trong Tam bảo chỉ là các bậc Thánh tăng đệ tử Phật chứ không phải phàm tăng ngày nay! Không thể phủ nhận rằng, sự thiếu kính trọng ấy có một phần xuất phát từ một số người xuất gia sống chưa đúng giới luật, dẫn đến mất hình tượng đối với cư sĩ. Song, Tăng Ni là người đang tu, không phải người đã tu xong, nên không thể tránh khỏi những khiếm khuyết. Đem sai trái của vài người để đánh đồng lên cả Tăng đoàn là điều không hợp lý.

Hai hiện tượng nêu trên chỉ là số ít trong Phật giáo Việt Nam hiện nay. Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng đó vẫn là thực trạng cần cảnh báo. Trước tình hình đó, khi đọc lại Kinh Milinda vấn đạo, chúng ta nhận thấy những lời dạy trong tác phẩm nầy càng thêm giá trị. Những vấn đề mà chúng ta gặp phải ngày nay đã được vua Milinda và ngài Nāgasena đề cập từ cách đây hơn hai ngàn năm.

Như đã trình bày ở phần đầu bài viết, mối quan hệ giữa người xuất gia và người tại gia trong đạo Phật dĩ nhiên sẽ có những lúc không thể tránh khỏi cảm xúc hỷ nộ ái ố. Khi ấy, hàng cư sĩ nên đọc lại lời của ngài Nāgasena để cảm thông cho những bậc xuất trần đang bước trên con đường phạm hạnh - con đường mà chính chúng ta đã không dám bước đi. Hãy nhớ rằng họ ăn một bữa, hạn chế lòng ham muốn, xa lìa các huyên náo thế gian, giữ mình trong giới luật… Trong khi chúng ta ăn ngon, mặc đẹp, nhà rộng, tích trữ tài sản, chạy theo danh vọng, nuôi dưỡng các ham muốn trần tục…

Ngược lại, người xuất gia không nên quên đi sự cao quý của phẩm mạo Tỳ-kheo. Từ đó, chúng ta có hành vi ứng xử với các tôn giáo bạn hoặc tín ngưỡng dân gian một cách phù hợp với quan điểm nhà Phật. Cuối cùng thay lời kết, xin phép trích lại lời dạy của ngài Nāgasena với vua Milinda: “Không kể phàm, không kể Thánh - chỉ ngay cái phẩm vị Tỳ-khưu - đã là phẩm vị cao thượng, xứng đáng cho trời và người lễ bái, tôn trọng, cúng dường.” [6]

 

VĨNH THÔNG

(Bài đăng trên Tạp chí Văn hóa Phật giáo, số 372, 2021)

_______________________

CHÚ THÍCH:
1Kinh Mi Tiên vấn đáp (2014), Giới Nghiêm dịch & Giới Đức hiệu đính, Nxb Tôn giáo, tr. 441.
2Kinh Trung A-hàm (1992), Tập III, Viện Cao đẳng Phật học Hải Đức Nha Trang dịch & Thích Thiện Siêu hiệu đính, Nxb Tôn giáo, tr. 86.
3Kinh Mi Tiên vấn đáp (2014), Sđd, tr. 603.
4. Nārada Mahā Thera (2019), Đức Phật và Phật pháp, Phạm Kim Khánh dịch, Nxb Tổng hợp TP.HCM, tr. 66-68.
5. Maha Thong Kham Medhivongs (1999), Lịch sử Đức Phật Tổ Cồ Đàm, Nxb TP.HCM, tr. 260.
6Kinh Mi Tiên vấn đáp (2014), Sđd, tr. 443.

TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1. Kinh Mi Tiên vấn đáp (2014), Giới Nghiêm dịch & Giới Đức hiệu đính, Nxb Tôn giáo.
2. Kinh Trung A-hàm (1992), Tập III, Viện Cao đẳng Phật học Hải Đức Nha Trang dịch & Thích Thiện Siêu hiệu đính, Nxb Tôn giáo.
3. Maha Thong Kham Medhivongs (1999), Lịch sử Đức Phật Tổ Cồ-đàm, Nxb TP.HCM.
4. Nārada Mahā Thera (2019), Đức Phật và Phật pháp, Phạm Kim Khánh dịch, Nxb Tổng hợp TP.HCM.

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét