7/12/25

Nhà văn Trịnh Bửu Hoài và những đóng góp cho văn học nghệ thuật An Giang - Vĩnh Thông

1. Lời mở

Trịnh Bửu Hoài (1952 - 2022) là nhà văn, nhà thơ, nhà biên khảo (sau đây gọi chung là nhà văn) ở tỉnh An Giang. Với 56 năm cầm bút (1966 - 2022), qua hai giai đoạn trước và sau năm 1975, ông đã xuất bản 63 đầu sách ở nhiều thể loại. Song song đó, tham gia công tác quản lý văn học nghệ thuật từ khá sớm và thời gian dài, ông có nhiều đóng góp cho sự phát triển của lãnh vực nầy ở địa phương. Nhìn lại chặng đường 50 năm phát văn học nghệ thuật An Giang sau khi đất nước thống nhất (1975 - 2025), chúng ta không thể không nhắc đến vai trò quan trọng của nhà văn Trịnh Bửu Hoài, như một trong những “cánh chim đầu đàn”.


2. Đôi nét về cuộc đời nhà văn Trịnh Bửu Hoài

Trịnh Bửu Hoài sanh ngày 16/5/1952 tại làng Mỹ Đức, tổng Châu Phú, quận Châu Phú, tỉnh Châu Đốc (hiện nay là xã Mỹ Đức, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang). Ông xuất thân trong gia đình nông dân có đông con, tuy vậy cha mẹ rất quan tâm việc học hành của con cái. Từ nhỏ ông đã bộc lộ niềm đam mê sách bút, cha mẹ dù khó khăn nhưng thương con nên chắt chiu mua từng cuốn vở, từng cây viết cho con [Trịnh Bửu Hoài 1998: 56-57].

Sau khi học bậc Sơ học và Tiểu học ở trường làng, Trịnh Bửu Hoài học bậc Trung học đệ nhất cấp (tương đương Trung học cơ sở ngày nay) ở thị xã Châu Đốc. Năm 1969, ông đến thị xã Long Xuyên tiếp tục học bậc Trung học đệ nhị cấp (tương đương Trung học phổ thông ngày nay). Do tình hình chiến sự căng thẳng, việc học tập của ông bị tác động không nhỏ.

Năm 1966, từ đam mê văn chương, ông bắt đầu sáng tác thơ và gởi cộng tác một số báo ở Sài Gòn, khi đó ông mới 14 tuổi. Lúc ấy, phong trào sáng tác văn thơ trong học đường khá rầm rồ, dù phần lớn đều tự phát. Các học sinh tập hợp thành lập thi văn đoàn (tương tự cách gọi bút nhóm ngày nay) và thực hiện những tập san văn thơ với hình thức in ronéo, in typo [Trịnh Bửu Hoài 1998: 62-64]. Trịnh Bửu Hoài cũng tham gia phong trào nầy, thực hiện tập san Khai hoang (1967) và Đối diện (1968) ở Châu Đốc, Khuynh hướng (1970) ở Long Xuyên.

Năm 1968, ông gặp gỡ và kết giao với cây bút đồng hương đàn anh là nhà thơ Ngô Nguyên Nghiễm, bấy giờ đang học tập ở Sài Gòn và về thăm Châu Đốc. Được lời mời, năm 1969, ông tham gia Ban Chủ biên tạp chí và nhà xuất bản Khai phá do thi sĩ họ Ngô chủ trương [Ngô Nguyên Nghiễm 2022]. Năm 1974, Khai phá xuất bản hai tập thơ đầu tiên của Trịnh Bửu Hoài là Thơ tình Người hành hương tình yêu, được bạn đọc trẻ yêu thích.

Năm 1975, hoàn cảnh xã hội thay đổi, việc sáng tác của ông ít nhiều bị gián đoạn. Những năm đầu, ông công tác ở Đài Truyền thanh thị xã Châu Đốc. Năm 1980, Hội Văn nghệ tỉnh An Giang được thành lập. Sang năm sau, Hội Văn nghệ thị xã Châu Đốc cũng ra đời. Khi đó, ông bắt đầu tham gia vào môi trường văn nghệ mới, tích cực cộng tác với phong trào ở địa phương. Năm 1984, ông xuất bản tập thơ Mùa trăng, như đánh dấu sự trở lại của cái tên Trịnh Bửu Hoài trong giai đoạn mới.

Bước sang thập niên 1980 - 1990, để đáp ứng nhu cầu độc giả trong bối cảnh các phương tiện giải trí ít ỏi, ông đã sáng tác hàng loạt tiểu thuyết trữ tình “làm mưa làm gió” trên thị trường sách đương thời, tiêu biểu như: Tình yêu đâu phải là trò chơi (1987), Tình yêu trong veo (1988), Nửa tuần trăng mật (1989), Hiến thân (1990), Người tình soi gương (1992), Đôi môi hình trái tim (1994)… Giai đoạn nầy, ông là Chủ tịch Hội Văn nghệ Châu Đốc.



Một số đầu sách đã xuất ban của nhà văn Trịnh Bửu Hoài (Ảnh: Vĩnh Thông)

Từ năm 1999 đến năm 2011, nhà văn Trịnh Bửu Hoài là Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh An Giang. Ngoài ra, ông còn là Ủy viên Đoàn Chủ tịch Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam, Phó ban Công tác Hội Nhà văn Việt Nam tại Đồng bằng sông Cửu Long… Ông cũng là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, Hội Nhà báo Việt Nam, Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam, Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam [Nhiều tác giả 2015: 67]. Giai đoạn nầy, ông trở lại với thơ, đồng thời viết một số tác phẩm biên khảo về lịch sử, văn hóa, di tích ở An Giang.

Sau khi về hưu, nhà văn Trịnh Bửu Hoài và gia đình cư ngụ ở phường Vĩnh Mỹ, thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang. Ông mất ngày 8/12/2022.


3. Sự nghiệp sáng tác của nhà văn Trịnh Bửu Hoài

Từ bài thơ đầu tiên được đăng báo vào năm 1966, các tác phẩm của nhà văn Trịnh Bửu Hoài đã đăng trên hàng trăm tờ báo và tạp chí, tiêu biểu như: Tin sáng, Thời đại, Tiếng nói dân tộc, Tân dân, Trắng đen, Bình minh, Đối thoại, Sóng thần, Sống mới, Tiếng vang, Khởi hành, Khai phá, Khuynh hướng, Văn, Văn học, Văn nghệ, Nhà văn, Văn hóa nghệ thuật, Diễn đàn văn nghệ Việt Nam, Tác phẩm mới, Nghệ thuật, Thời văn, Mỹ thuật thời nay, Nguồn sáng, Nhân dân, Lao động, Tuổi trẻ, Thanh niên, Sài Gòn giải phóng, Thế giới mới, Người làm báo, Giác ngộ, Hoa đàm, Hồn Việt, Kiến thức ngày nay, Tài hoa trẻ, Áo trắng, Người Hà Nội, Xứ Thanh, Sông Thương, Sông Hương, Non Nước, Đất Quảng, Thất Sơn, Cửu Long, Chiêu Anh Các, Bông sen, Quán văn… [Nhiều tác giả 2015: 67].

Từ tập thơ đầu tay vào năm 1974, ông đã xuất bản 63 đầu sách (in riêng), gồm: 28 quyển thơ (25 tập thơ, 2 trường ca, 1 tập thơ thiếu nhi), 29 quyển văn xuôi (3 tập truyện ngắn, 3 truyện dài, 12 tiểu thuyết, 1 truyện ký, 5 tập bút ký, 3 tập du ký, 1 tập tùy bút, 1 tập tạp bút) và 6 quyển biên khảo. Có thể khẳng định, Trịnh Bửu Hoài là nhà văn có số lượng sách xuất bản nhiều nhứt tỉnh An Giang từ xưa đến nay. Ngoài ra, ông còn góp bút trong hơn 250 tuyển tập in chung nhiều tác giả.

 

THỂ LOẠI

SỐ ĐẦU SÁCH

Thơ

Thơ

25

28

Trường ca

2

Thơ thiếu nhi

1

Văn xuôi

Truyện ngắn

3

29

Truyện dài

3

Tiểu thuyết

12

Truyện ký

1

Bút ký

5

Du ký

3

Tùy bút

1

Tạp bút

1

Biên khảo

6

TỔNG CỘNG

63

Bảng 1: Số lượng sách xuất bản của nhà văn Trịnh Bửu Hoài

 

Ở thể loại thơ, nhà thơ Trịnh Bửu Hoài đã xuất bản 28 đầu sách, trong đó 25 tập thơ, 2 trường ca, 1 tập thơ thiếu nhi. Thơ ông mộc mạc mà tinh tế, cảm xúc sâu lắng, da diết. Tác giả thường sử dụng nhiều mỹ từ và hình ảnh so sánh, tuy vậy ngôn ngữ không sáo mòn hay bi lụy, mà thể hiện tinh thần nhập cuộc, hiến dâng.

Tình yêu và tình bạn là mảng đề tài thường trực trong thơ Trịnh Bửu Hoài, mà người đọc dễ bắt gặp ở đó những câu thơ nao lòng, chẳng hạn: “Em huyền ảo hiện thân từ kiếp trước / Đợi chờ nhau khi trời đất giao hòa / Em có cuộn mây hồng theo chân bước / Mà bồng bềnh khắp ngõ bóng trăng sa” [Trịnh Bửu Hoài 2012: 37].

Đáng chú ý, ông có trường ca Giữa hai mùa hẹn ước, nói lên những đau thương của người An Giang trong chiến tranh biên giới Tây Nam. Đó là trách nhiệm cao cả của người cầm bút, chuyển tải đời sống - cả khổ đau lẫn hạnh phúc - của nhân dân vào trang viết. Nhìn chung ở thể loại thơ, cái tên Trịnh Bửu Hoài như “thương hiệu” đã định vị vững vàng trong lòng độc giả.

 

TT

TÁC PHẨM

THỂ LOẠI

ĐƠN VỊ
XUẤT BẢN

NĂM

GHI CHÚ

1

Thơ tình

thơ

Khai Phá

1974

 

2

Người hành hương tình yêu

thơ

Khai Phá

1974

 

3

Mùa trăng

thơ

Văn nghệ An Giang

1984

 

4

Giữa hai mùa hẹn ước

trường ca

Văn nghệ Châu Đốc

1985

Tái bản 2019

6

Anh chỉ muốn yêu em và làm thơ

thơ

Văn nghệ Cần Thơ

1987

 

6

Nhớ nhau từ một sớm mai

thơ

Văn nghệ Tuy Hòa

1988

 

7

Thơ tặng riêng người

thơ

Văn nghệ Châu Đốc

1992

 

8

Thơ thời áo trắng

thơ

Văn nghệ Châu Đốc

1993

 

9

Xứ của yêu thương

thơ
thiếu nhi

Văn nghệ Châu Đốc

1994

Tái bản 1995

10

Quê xa

thơ

Hội Nhà văn

1994

 

11

Lẽo đẽo bụi hồng

thơ

Văn học

1995

 

12

Thơ tình mùa xuân

thơ

Văn nghệ Châu Đốc

1997

 

13

Thơ tình mùa hạ

thơ

Văn nghệ Châu Đốc

1997

 

14

Gởi một người phương xa

thơ

Trẻ

1998

 

15

Thơ tình mùa thu

thơ

Mũi Cà Mau

1998

 

16

Thơ tình mùa đông

thơ

Mũi Cà Mau

1998

 

17

Vườn chim áo trắng

thơ

Văn nghệ

1998

 

18

Tứ tuyệt mùa xuân

thơ

Mũi Cà Mau

2000

 

19

Ký ức

thơ

Văn nghệ An Giang

2002

 

20

Ngan ngát mùa xưa

thơ

Văn nghệ

2005

 

21

Thơ Trịnh Bửu Hoài

thơ

Đồng Nai

2006

 

22

Khúc trăng xưa

thơ

Phương Đông

2008

 

23

Tinh sương chiều

thơ

Hội Nhà văn

2012

 

24

Thơ trong nhật ký

thơ

Hội Nhà văn

2012

 

25

Phương trời viễn mộng vẫn còn thơ bay

thơ

Thân hữu Châu Đốc tại Hoa Kỳ

2013

Tái bản 2015

25

Ngoài em ra anh còn ai nữa

thơ

Hội Nhà văn

2015

 

27

Thơ và tình

thơ

Hội Nhà văn

2017

 

28

Những tóc dài

trường ca

Khuynh Hướng

2021

 

Bảng 2: Danh mục các đầu sách thể loại thơ của nhà thơ Trịnh Bửu Hoài

 

Ở thể loại văn xuôi, nhà văn Trịnh Bửu Hoài đã xuất bản 29 đầu sách, trong đó 3 tập truyện ngắn, 3 truyện dài, 12 tiểu thuyết, 1 truyện ký, 5 tập bút ký, 3 tập du ký, 1 tập tùy bút, 1 tập tạp bút. Văn xuôi của ông đa dạng, linh động theo từng thể loại, nhưng sắc thái chung là sự mềm mại, nhẹ nhàng trong câu chữ.

Đối với tiểu thuyết, ông chú trọng khai thác yếu tố trữ tình. Câu chuyện thường là những cặp đôi yêu nhau nhưng trắc trở, cuối cùng vượt qua những khó khăn và tìm thấy hạnh phúc. Ra đời trong thập niên 1980 khi đất nước vừa bước qua cuộc chiến tranh tàn khốc, tiểu thuyết của ông đã tiên phong kêu gọi hòa giải, hàn gắn vết thương chiến tranh bằng tình yêu, sự bao dung (Tình yêu trong veo).

Trái lại ở truyện ngắn, nhà văn sẵn sàng chạm vào các vấn đề gai góc của xã hội như những tiêu cực trong công sở (Người kế thừa), sự sa đọa về luân lý gia đình (Trong một đêm), lấy niềm tin tâm linh để trục lợi (Cây bồ đề trong bệnh viện), bi kịch của hôn nhân không tình yêu (Căn phòng hoa chúc cũ), nỗi khát khao tình mẫu tử (Khát vọng điên rồ)…

Ngoài ra, các thể loại bút ký, du ký, tùy bút được tác giả thể hiện bằng lối văn mực thước mà tao nhã. Đối với ký, các thông tin được ông khai thác và sử dụng một cách cẩn trọng và chính xác. Trong khi đó, tùy bút của ông thể hiện những góc nhìn, chiêm nghiệm, hoài niệm… vừa gần gũi, vừa trữ tình, khơi gợi được sự đồng cảm nơi người đọc.

 

TT

TÁC PHẨM

THỂ
LOẠI

ĐƠN VỊ
XUẤT BẢN

NĂM

GHI CHÚ

1

48 giờ vòng quanh núi Sam

du ký

Văn nghệ Châu Đốc

1985

Tái bản 1987, 1987, 1991, 1994, 1995, 1996, 1998, 2001, 2003, 2004, 2006, 2014

2

Xóm Lá Sen

bút ký

Văn nghệ Châu Đốc

1986

 

3

Con chim tắm cát

truyện ngắn

Văn nghệ Châu Đốc

1987

 

4

Tình yêu đâu phải là trò chơi

tiểu thuyết

Văn nghệ Châu Đốc

1987

Tái bản 1988, 1989, 1992, 2000

5

Tình yêu trong veo

tiểu thuyết

Văn nghệ Châu Phú

1988

Tái bản 1989, 1996, 1999

6

Vụ án vườn Tao Ngộ

truyện dài

Văn nghệ Châu Đốc

1989

Tái bản 1989, 1996, 1999, 2003, 2004, 2014

7

Tai biến của tâm hồn

tiểu thuyết

Mũi Cà Mau

1989

 

8

Nửa tuần trăng mật

tiểu thuyết

Lao động

1989

Tái bản 1993, 1999

9

Hiến thân

tiểu thuyết

Văn nghệ Châu Đốc

1990

Tái bản 1993, 1999

10

Người tình trong sân trăng

tiểu thuyết

Long An

1990

 

11

Địa ngục trong ánh mắt thiên đường trong đôi môi

tiểu thuyết

Văn nghệ Châu Đốc

1991

 

12

Hình sương bóng khói

tiểu thuyết

Tổng hợp An Giang

1991

 

13

Một chút tình xưa

tiểu thuyết

Long An

1991

 

14

Người tình soi gương

tiểu thuyết

Văn nghệ An Giang

1992

 

15

Người xa người

tiểu thuyết

Văn nghệ An Giang

1993

 

16

Đôi môi hình trái tim

tiểu thuyết

Văn nghệ Châu Đốc

1994

 

17

Huyền thoại tà áo trắng

truyện dài

Văn nghệ Châu Đốc

1995

 

18

Cái đẹp của ảo tưởng

truyện ngắn

Đồng Nai

1996

 

19

Mùa hội vía

bút ký

Văn nghệ Châu Đốc

1996

Tái bản 1999, 2002, 2006

20

Thầy tôi và bạn tôi

bút ký

Văn nghệ Châu Đốc

1998

Tái bản 1998

21

Non nước Hà Tiên

du ký

Văn nghệ
Kiên Giang

1999

Tái bản 2002, 2004, 2008, 2015

22

Lễ vía Quản cơ Trần Văn Thành

du ký

Văn nghệ An Giang

2002

Tái bản 2004

23

Màu tím học trò

truyện dài

Kim Đồng

2003

Tái bản 2007

24

Chim xa cành

truyện ngắn

Văn nghệ

2004

 

25

Lời của đá

bút ký

Văn nghệ Châu Đốc

2005

 

26

Vụn vặt giữa đời

tạp bút

Hội Nhà văn

2017

 

27

Một cõi biên thùy

bút ký

Văn hóa Văn nghệ

2017

 

28

Mùa xuân và tuổi xuân

tùy bút

Đà Nẵng

2021

 

29

Hào khí biên thùy

truyện ký

Văn học

2022

 

Bảng 3: Danh mục các đầu sách thể loại văn xuôi của nhà văn Trịnh Bửu Hoài

 

Ở thể loại biên khảo, nhà biên khảo Trịnh Bửu Hoài viết khá muộn và số lượng tác phẩm không quá nhiều, chỉ 6 quyển. Tuy vậy, các tác phẩm của ông đều chỉn chu, công phu, giàu giá trị.

An Giang nói chung và Châu Đốc nói riêng là đề tài xuyên suốt các tác phẩm biên khảo của Trịnh Bửu Hoài. Ông viết về quê nhà như trách nhiệm, đồng thời là niềm tự hào của người con ở xứ sở “tiền tam giang, hậu thất lãnh”. Ngoài yếu tố học thuật, tác giả còn hướng đến quảng bá các giá trị văn hóa địa phương qua du lịch. Đọc biên khảo của ông, chúng ta có thể tìm hiểu thêm về những di tích, thắng cảnh, lễ hội, đặc sản, danh nhân, giai thoại… ở An Giang.

Đặc biệt, Địa chí du lịch An Giang là sách giới thiệu tổng quan về du lịch An Giang, được biên soạn công phu, thông tin đầy đủ và chính xác, giàu giá trị. Công trình được ngành du lịch địa phương sử dụng chính thức cho các hoạt động thuyết minh, quảng bá, xúc tiến…

 

TT

TÁC PHẨM

THỂ
LOẠI

ĐƠN VỊ
XUẤT BẢN

NĂM

GHI CHÚ

1

Lịch sử xây dựng và phát triển miếu Bà Chúa Xứ núi Sam

biên khảo

Văn nghệ Châu Đốc

2008

Tái bản 2010, 2013, 2019

2

Địa chí du lịch An Giang

biên khảo

Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch An Giang

2013

Tái bản 2018

3

Châu Đốc di tích thắng cảnh và đặc sản

biên khảo

Phòng Văn hóa và Thông tin Châu Đốc

2018

 

4

Thiền viện Đông Lai dưới chân núi Cậu

biên khảo

Hội Nhà văn

2020

 

5

Truyền thuyết và giai thoại vùng biên thùy Châu Đốc

biên khảo

Đà Nẵng

2022

 

6

Danh nhân Châu Đốc

biên khảo

Hội Nhà văn

2022

 

Bảng 4: Danh mục các đầu sách thể loại biên khảo của nhà biên khảo Trịnh Bửu Hoài

 

Trong quá trình sáng tác, nhà văn Trịnh Bửu Hoài đoạt Giải Nhất thể loại thơ trong Giải Văn chương Thủ Khoa Nghĩa vào năm 1969 với bài thơ Thư cho anh, Giải thưởng Văn học Nghệ thuật An Giang 20 năm giải phóng (1975 - 1995) vào năm 1995 với tiểu thuyết Người xa người, Giải thưởng Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam vào năm 2000 với biên khảo Lịch sử miếu Bà Chúa Xứ núi Sam [Nhiều tác giả 2015: 69].


4. Đóng góp của nhà văn Trịnh Bửu Hoài với sự phát triển văn học nghệ thuật An Giang

Nhà văn Trịnh Bửu Hoài là Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật (sau đó là Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật) tỉnh An Giang trong hai nhiệm kỳ IV (1999 - 2005) và V (2005 - 2011), trước đó là Ủy viên Ban Chấp hành từ nhiệm kỳ II (1987 - 1992) về sau. Do vậy, ông có nhiều đóng góp quan trọng cho sự phát triển của nền văn học nghệ thuật địa phương, đặc biệt trong hai thập niên đầu thiên nhiên kỷ mới.

Tuy nhiên, lãnh vực văn học nghệ thuật có phạm vi rộng, nhiều chuyên ngành, nhiều giác độ tiếp cận. Bởi thế, khi nói về những đóng góp của nhà văn Trịnh Bửu Hoài, người viết khó có thể trình bày bao quát tất cả các khía cạnh. Thay vào đó, chúng tôi tập trung vào những dấu ấn nổi bật của ông trong quá trình công tác.

Trước hết, không thể không nói đến những đóng góp của nhà văn Trịnh Bửu Hoài đối với Hội Văn học Nghệ thuật thị xã Châu Đốc. Với vai trò Chủ tịch, dấu ấn nổi bật của ông là xây dựng thương hiệu Văn nghệ Châu Đốc như một địa chỉ uy tín trong lãnh vực xuất bản và phát hành các tác phẩm văn học nghệ thuật. Hàng loạt các đầu sách tiểu thuyết, truyện ngắn, du ký, thơ, sưu khảo… do Văn nghệ Châu Đốc xuất bản trong thập niên 1990 rất thu hút độc giả, góp phần quảng bá hiệu quả cho vùng đất và con người Châu Đốc. Tiêu biểu như tập thơ Chớp bể mưa nguồn của Ngô Nguyên Nghiễm (1992), tập truyện Người đẹp chùa Hang của Nguyễn Hữu Thiện (1993), bốn tập truyện Kỳ tích núi Sam của Liêm Châu (1994), tập ký Lễ hội và vía Bà Chúa Xứ núi Sam của Mai Văn Tạo (1995), tập truyện Truyền thuyết Cồn Tiên của Trình Minh (1996), tập thơ Sao em không về như đã hẹn của Trần Biên Thùy (1998)…

Từ kinh nghiệm đã tích lũy và tư duy sáng tạo của bản thân, đến khi là Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật An Giang, nhà văn Trịnh Bửu Hoài tiếp tục triển khai nhiều hoạt động đa dạng và hiệu quả, góp phần đẩy mạnh sự phát triển của văn học nghệ thuật tỉnh nhà. Tạp chí Thất Sơn - cơ quan ngôn luận của hội ngày càng nâng cao về số lượng và chất lượng. Từ hai tháng một số, tạp chí tăng lên phát hành hằng tháng, mỗi số in 1000 bản, hình thức được đổi mới. Tạp chí đã thực hiện tốt nhiệm vụ cung cấp thông tin về hoạt động hội, giới thiệu tác phẩm của hội viên, nghiên cứu về văn học nghệ thuật… Không chỉ vậy, nhờ uy tín và chất lượng, Thất Sơn còn vươn khỏi phạm vi địa phương, thu hút sự quan tâm cộng tác của nhiều cây bút nổi tiếng trên cả nước.

Về đội ngũ văn nghệ sĩ, đến hết năm 2010 - trước khi kết thúc nhiệm kỳ V, hội có trên 300 hội viên, trong đó trên 100 hội viên của các hội chuyên ngành trung ương [Trịnh Bửu Hoài 2010: 3]. Với lực lượng đông đảo đó, Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật An Giang đã nỗ lực thực hiện vai trò tập hợp, đoàn kết, hỗ trợ hội viên. Hội góp phần thúc đẩy văn nghệ sĩ sáng tạo, cho ra đời nhiều tác phẩm có tiếng vang, gặt hái nhiều thành tích nổi bật ở các cuộc thi, từng bước định vị chỗ đứng trong khu vực và trên cả nước.

Công tác phát triển tài năng trẻ là một trong những đóng góp quan trọng của nhà văn Trịnh Bửu Hoài. Giải thưởng Văn chương Thủ Khoa Nghĩa được duy trì hiệu quả, qua đó phát hiện nhiều cây bút như Võ Diệu Thanh, Nguyễn Thanh Thảo, Minh Bảo Trân, Mai Bửu Hoàng Hưng, Phạm Phương Khánh… [Vĩnh Châu 2007]. Năm 2007, Gia đình Áo trắng An Giang ra đời, tập hợp cộng tác viên ở An Giang của tập san văn thơ Áo trắng, đã trở thành môi trường ươm mầm cho nhiều tác giả như Trần Sang, Trương Chí Hùng, Nguyễn Đức Phú Thọ, Hoàng Thị Trúc Ly, Nguyễn Ngọc Đào Uyên, Nghiêm Quốc Thanh… [Trọng Nhân 2017].

Mặt khác, trong hai nhiệm kỳ IV - V, Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật tỉnh đã xuất bản gần 300 đầu sách; tổ chức trên 100 trại sáng tác và chuyến thực tế sáng tác với trên 1200 lượt hội viên tham gia; tổ chức triển lãm mỹ thuật, nhiếp ảnh, thư pháp; tổ chức biểu diễn âm nhạc, kịch, đờn ca tài tử; tổ chức hội thảo, tọa đàm, tập huấn về văn học nghệ thuật… Đặc biệt, một dấu ấn nổi bật khác của nhà văn Trịnh Bửu Hoài là hằng năm đều tổ chức trại sáng tác xuyên Việt cho hội viên các chuyên ngành, thường kéo dài khoảng 15 - 20 ngày với khoảng 10 - 15 hội viên tham gia. Đáng tiếc là sau đó, hoạt động nầy không còn được tiếp tục duy trì.

Với những đóng góp cho lãnh vực văn học nghệ thuật, nhà văn Trịnh Bửu Hoài được trao tặng các huy chương và kỷ niệm chương: Vì sự nghiệp Đại đoàn kết dân tộc, Vì sự nghiệp Văn hoá tư tưởng, Vì sự nghiệp Văn học nghệ thuật Việt Nam, Vì sự nghiệp Văn nghệ dân gian Việt Nam, Vì sự nghiệp Mỹ thuật Việt Nam, Vì sự nghiệp Nhiếp ảnh Việt Nam, Vì sự nghiệp Sử học Việt Nam, Vì sự nghiệp Báo chí Việt Nam… [Nhiều tác giả 2015: 67].


5. Lời kết

Nhà thơ, nhà văn, nhà biên khảo Trịnh Bửu Hoài sanh trưởng và cầm bút từ một làng quê nghèo khó ven biên giới, trong thời kỳ chiến tranh. Sau khi đất nước hòa bình, ông tiếp tục miệt mài sáng tạo, cho ra đời nhiều tác phẩm giá trị. Có thể khẳng định đến nay, Trịnh Bửu Hoài là nhà văn có số lượng sách xuất bản nhiều nhứt tỉnh An Giang. Bên cạnh đó, với vai trò là người làm công tác quản lý, ông có nhiều đóng góp cho văn học nghệ thuật địa phương phát triển cả chiều rộng lẫn chiều sâu. Với những thành tích đó, nhà văn Trịnh Bửu Hoài xứng đáng được xem như một danh nhân văn hóa tiêu biểu của tỉnh An Giang trong thời kỳ hòa bình và hội nhập.

 

VĨNH THÔNG

(Bài in trong Kỷ yếu Hội thảo khoa học cấp tỉnh: 50 năm văn học nghệ thuật An Giang
(1975 - 2025), Trường Đại học An Giang, Nxb Đại học Quốc gia TP.HCM, 2025)

_______________________

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

1. Ngô Nguyên Nghiễm (2022), “Trịnh Bửu Hoài, nhặt suốt đời chưa hết mùi hương”, Website Hội Nhà văn Việt Nam (https://vanvn.vn), 9/12/2022.

2. Nhiều tác giả (2015), Tuyển tập 40 năm văn học An Giang 1975 - 2015, Nxb Hội Nhà văn.

3. Trịnh Bửu Hoài (1998), Thầy tôi và bạn tôi, Văn nghệ Châu Đốc.

4. Trịnh Bửu Hoài (2010), “Hội viên là người xây dựng hội”, Tạp chí Thất Sơn, số 152.

5. Trịnh Bửu Hoài (2012), Tinh sương chiều, Nxb Hội Nhà văn.

6. Trọng Nhân (2017),Họp mặt kỷ niệm 10 năm thành lập Gia đình Áo trắng An Giang”, Trang thông tin điện tử Tuyên giáo An Giang (https://tuyengiaoangiang.vn), 2/10/2017.

7. Vĩnh Châu (2007),Giải Văn chương Thủ Khoa Nghĩa - An Giang, sân chơi nghệ thuật bổ ích”, Báo điện tử Sài Gòn giải phóng (https://sggp.org.vn), 14/7/2007.


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét