15/4/26

Vẫy tay chào - truyện ngắn Vĩnh Thông

Chiều thứ Sáu mỗi tuần, tôi lại thơ thẩn dạo bộ trên con đường quen thuộc lên núi Sam, không biết từ lúc nào nó đã trở thành thói quen định kỳ của mình. Con đường được làm từ thời Pháp thuộc nhằm mục đích quân sự, về sau nó được người ta cải tạo thành đường dành cho xe ô tô và xe hai bánh chạy lên đỉnh núi để phục vụ du lịch. Dọc đường, những hàng cây phượng và huỳnh mai đang mùa trổ bông, đua nhau nở rộ rừng rực một góc trời biên tái. Chốc lát, một vài chiếc xe gắn máy lại chạy qua, chở theo những cô cậu còn rất trẻ, những người đam mê khám phá núi rừng. Hình ảnh đó làm tôi thổn thức nhớ lại một thời son trẻ của mình. Ngày ấy, chúng tôi cũng là những người còn rất trẻ, mặc dù hoàn cảnh và phương tiện không được như bây giờ, nhưng khát khao tung cánh trên nền trời xanh thì không khác.

Núi Sam nằm chễm chệ giữa đồng ruộng bát ngát, án ngữ cửa ngõ vào Thất Sơn. Ngọn núi không cao - chỉ trên 200 mét, đáng lẽ gọi là đồi, nhưng người phương Nam bao đời nay vẫn quen gọi là núi. Tuy không cao, nhưng nó là một nơi nghỉ mát thoải mái ở vùng biên giới Tây Nam. Dân gian kể rằng nghe đâu thời xa xưa, đồng bằng sông Cửu Long còn chìm trong biển cả, hòn đảo nầy nổi trên mặt nước với hình dáng như con sam khổng lồ. Đến khi nước biển rút, hòn Sam nằm giữa đồng bằng nên gọi là núi Sam. Sau khi Thoại Ngọc Hầu đào kinh Vĩnh Tế, vua Minh Mạng ban cho tên núi là Vĩnh Tế sơn để ghi công người vợ chánh của ông.

Tôi thường đi một mình vì thích được thoải mái thả rong những suy tư dọc theo triền núi, cũng có đôi lần rủ được chồng con đi cùng, hoặc một vài người bạn thân, đồng nghiệp, hàng xóm… Thế nhưng, chiều thứ Sáu hôm nay lại là một dịp rất đặc biệt so với những lần trước. Người đi bên cạnh tôi là một người cũ, vốn đã bặt tin từ lâu, tưởng như không còn cơ hội gặp lại. Người ấy từng hiện diện trong cuộc đời tôi cách đây ba mươi năm. Sự hiện diện ấy nào phải thoáng chốc rồi qua đi, hay đã chìm vào lãng quên, mà trái lại ám ảnh tôi suốt ngần ấy thời gian, không thể xóa nhòa.

Tôi không thể tưởng tưởng rằng, có ngày mình gặp lại Chương ở nơi nầy, ngọn núi mà tuổi thiếu thời của chúng tôi đã có cùng nhau quá nhiều kỷ niệm. Ngày ấy, chúng tôi là những cô cậu học trò cấp hai, không hẳn là con nít, nhưng cũng chưa chững chạc được bao, vẫn cứ hồn nhiên tinh nghịch. Những buổi chiều cuối tuần, lũ bạn lại cùng nhau đạp xe từ thị xã Châu Đốc vô núi Sam rồi đi bộ lên núi. Con đường dài và ngoằn ngoèo với nhiều đoạn dốc cao, nhưng không thể làm chùn bước chân của lũ học trò chúng tôi, những kẻ chỉ xếp sau quỷ và ma. Dọc đường đi, mọi người rôm rả nói cười đùa giỡn, có khi chọc ghẹo nhau rồi chạy đuổi bắt nhau, đến nỗi dường như quên cả con đường mình đang chạy là con dốc cao ngất. Chỉ đến khi mệt lã người phải dừng lại, đứa nào đứa nấy cũng ngồi thở hì hục, mồ hôi chảy ròng ròng. Vậy mà, tụi nó còn nhìn nhau cười hả hê, có lẽ không phải vì cuộc vui quá hấp dẫn, mà vì… không hiểu sao tụi mình lại khùng như vậy!

“Anh có còn nhớ rõ về con đường lên núi không?”

“Mấy chục năm rồi, khoảng thời gian đó đủ cho những thứ cần phải quên…”

Anh cười nửa miệng, vẻ hiền hậu, liếc nhìn sang tôi rồi nói tiếp:

“Nhưng mà có những thứ không dễ gì quên được, dù cho mình có cố tình muốn quên.”

Anh lại thở hắt ra một hơi rõ dài, như muốn trút đi hết những nỗi buồn xưa cũ. Anh nói chậm rãi:

“Hồi đó, lũ bạn bè tụi mình từng biết bao ngày đi mòn gót giày trên con đường nầy. Vừa đi vừa huyên thuyên nói chuyện, đùa giỡn, vậy mà không thấy mệt. Lên tới đỉnh núi, đứa nào cũng hớn hở đón nhận không khí mát lành và khung cảnh yên bình của thiên nhiên. Bởi vậy, nếu nói đến một địa điểm mà anh nhớ nhứt ở quê nhà, thì đó chính là ngọn núi nầy. Lần nầy về Việt Nam, anh đã nhứt định phải đến thăm lại nơi đây cho bằng được…”

“Rồi để tình cờ lại gặp em hôm nay”, tôi cười tiếp lời anh.

“Ngày ấy anh đã đi đâu?”

Ngày ấy Chương là một cậu học sinh có vóc dáng cao lớn, khuôn mặt góc cạnh đầy nam tính, lại còn học giỏi và có nhiều tài lẻ. Những điều ấy đã làm say lòng không ít cô gái trong ngôi trường trung học nhỏ của thị xã biên giới. Có lẽ Chương không biết rằng, trong số đó có cả người bạn mà mỗi chiều cuối tuần thường leo núi cùng mình. Cô học trò nhỏ nhắn có ham thích gì cho lắm cái chuyện leo núi, nhưng điều quan trọng là được đi bên anh. Ở tuổi thiếu thời của mình, tôi không giải thích được điều ấy. Giá như, anh cũng có cảm tình với tôi, hoặc biết được tình cảm của tôi dành cho anh, và mở lời… Chứ con gái, ai lại lên tiếng trước!

Vậy mà Chương đột ngột ra đi, mọi người ngầm hiểu nguyên nhân chính xuất phát từ những biến động đầy căng thẳng trong cuộc chiến đang sắp đến hồi kết, song không ai biết rõ gia đình anh di tản về đâu. Nhiều lời đồn thổi về anh bay đến tay chúng tôi những con diều giấy mà tụi học trò hay sếp và bắn qua lại cho nhau. Những thông tin nửa hư nửa hư, có khi trái ngược nhau, không biết đâu mà lần. Mấy mươi năm thấm thoát trôi vèo, người đi kẻ ở bặt tin nhau, tưởng như không còn cơ hội gặp lại. Thậm chí, đến cái tên Chương của anh, có lẽ nhiều người đã quên. Vậy mà, bỗng dưng tôi lại hội ngộ cùng anh trên con đường núi nhiều kỷ niệm nầy.

Chùa Long Sơn hiện ra trước mắt chúng tôi, nằm u tịch bên triền núi, chìm trong một quang cảnh thanh thoát. Thỉnh thoảng, vài tiếng chuông đơn lẻ ngân lên trầm mặc giữa núi rừng, làm tôi có chút thư thái hơn sau đoạn đường dài đã thấm mệt. Cứ từng bước lên cao dần với núi rồi nhìn xuống, con đường Tân Lộ Kiều Lương đẹp huyền ảo như cái tên mà tiền nhân đã đặt cho nó. Dưới chân núi là nhà cửa chi chít, xa hơn là ruộng đồng và kinh rạch xanh lơ, và đô thị Châu Đốc nằm tít xa quyện với sương mờ. Chúng tôi đã im lặng rất lâu trước khung cảnh vốn rất thân quen nầy, cứ để mặc cho tâm hồn mình thỏa sức bay cao cùng mây trời gió núi.

Thuở đó, phượng mọc dọc theo triền núi Sam rất nhiều, khiến cho nhìn từ xa, ngọn núi như một đám lửa đỏ khổng lồ giữa đồng bằng. Không chỉ thế, con đường từ thị xã đến chân núi cũng được trồng nhiều phượng, nên còn được mệnh danh là “đường phượng bay”. Giờ đây, phượng ven đường và dọc triền núi đều thưa thớt rất nhiều, làm những con người của ngày cũ như chúng tôi không khỏi ngậm ngùi tiếc nuối. Quả thật, thời gian đi qua có thể tàn phá tất cả mà không nhân nhượng bất cứ thứ gì. Và, chính thanh xuân của chúng tôi, cũng đã cùng với màu phượng đỏ ký ức, bị thời gian thổi đi rất xa, xa lắm rồi!

Tôi và Chương lên đến Pháo Đài khi mặt trời gần tắt. Nơi đây là đỉnh núi Sam. Thời Nam Kỳ là thuộc địa, Chủ tỉnh Châu Đốc là Doceuil đã cho xây dựng một ngôi biệt thự tại đây, do tầng trên cùng có hình trôn ốc nên người địa phương gọi là Pháo Đài. Tuy nhiên, nó đã bị đánh sập trong chiến tranh. Ngày nay, Pháo Đài chỉ còn là phế tích với những bức tường loang lổ rong rêu. Buổi chiều của mấy mươi năm trước, khói lửa chiến tranh vẫn mờ mịt trên quê hương điêu tàn của chúng tôi. Từ đỉnh núi Sam nhìn xuống, quang cảnh thật diễm lệ nhưng cũng rất u buồn. Buổi chiều của mấy muôi năm sau, dưới tầm mắt của chúng tôi và sự nhộn nhịp của biết bao khách du lịch đổ về. Vậy mà, buổi chiều vẫn buồn theo cách riêng của nó. Phía mờ xa, những cụm sáng yếu ớt đỏ lựng như chùng chình rồi cũng đang dần trôi.

Chợt anh quay sang hỏi tôi:

“À… Vy lúc trước học chung lớp với em, anh nghe nói hình như sau khi ra trường cô ấy vẫn sống ở đây, em có biết tin gì về Vy không?”

“Sao anh lại hỏi về Vy?”

“Không… gì đâu… Chỉ vì trước đây anh có chút quen biết với Vy, bỗng dưng sực nhớ nên hỏi vậy thôi.”

Tôi hơi bất ngờ khi anh hỏi về Vy. Bởi, cô bạn ấy không nằm trong nhóm bạn thân của tôi và anh. Khi còn đi học, hầu như chúng tôi và Vy không qua lại nhiều với nhau. Sao giữa biết bao bạn bè, anh lại chỉ hỏi thăm về một người không thân thiết? Vả lại, cha của Vy là lính Cộng sản đã thoát ly gia đình vào chiến khu, cha của Chương lại là lính Cộng hòa đang làm việc ở thị xã. Do đó, hai người khó có thể qua lại với nhau. Tôi khẽ khàng trả lời:

“Vy mất rồi.”

Vẻ mặt anh đột nhiên thay đổi hẳn, trắng bệt ra đờ đẫn. Có phải, đó chỉ là những cảm xúc bất chợt ở người tuổi già khi nghe tin bạn đồng trang lứa đã ra đi?

“Vy mất khi nào và tại sao vậy An?”

“Sau khi anh đi được mấy tháng. Nghe nói, cô ấy nhảy từ trên núi Sam xuống tự vẫn, nhưng em không rõ nguyên do vì sao.”

“Trời!”

Đột nhiên anh có vẻ chao đảo, phải với tay nhịn vào thân cây nhỏ ven đường.

“Anh làm sao vậy?”

“Không… không sao đâu. Do… đi bộ hơi mệt, lại thêm nghe tin bất ngờ về… bạn cũ, nên anh choáng một chút.”

Anh ấp úng nói không tròn câu, phong độ như tụt dốc hẳn do với người tôi vừa gặp cách đây chưa đầy một giờ.

“Mộ Vy ở đâu?”

“Ở dưới chân núi, phía ngọn Đá Chẹt, nghe nói chôn chỗ đó là theo ước nguyện của Vy. Anh muốn đến thăm mộ Vy hay sao?”

“À… thôi… chắc để dịp khác em à, hôm nay anh có việc bận.”

Vậy là chúng tôi lại men theo con đường cũ lặng lẽ xuống núi. Suốt khoảng thời gian đó, cả hai không nói thêm nhiều với nhau. Trên cùng con đường với chúng tôi, nhiều bạn trẻ cũng đang đi lên, đi xuống, rộn rã nói cười. Đã có nhiều buổi chiều, tôi lang thang một mình trên con đường núi quen thuộc nầy, nhìn thấy những đôi tình nhân nắm tay nhau dạo bộ hay ngồi một ở góc đá nào đó ven đường để nghỉ chân, lòng tôi không khỏi xốn xang. Con đường họ đã đi qua, góc đá họ đã ngồi, liệu có rãi đầy hạnh phúc hay không? Mà hạnh phúc, rốt cuộc nó ra sao?

 

* * *

 

Chương rời Việt Nam, chúng tôi ít liên lạc với nhau từ dạo đó, mặc dù điều nầy không khó giữa thời đại công nghệ như hiện nay. Ban đầu, thỉnh thoảng chúng tôi có nhắn tin hỏi han nhau đôi chút, nhưng rồi do mỗi người đều bận rộn với gia đình và công việc của mình, nên những liên lạc mỗi lúc một thưa dần và rồi vắng bóng hẳn.

Trong lần họp lớp vào dịp Tết, không biết sao bỗng dương Nguyên - lớp trưởng cũ nói với tôi:

“Chương mất rồi An à, cách đây gần hai tháng.”

“Sao… Chương mất rồi? Mới mấy tháng trước anh ấy còn về núi Sam mà!”

“Đúng rồi, khi đó Chương đã biết mình đang mang căn bệnh nan y, muốn về thăm quê hương lần cuối và để tìm…”

“Tìm ai?”

Nguyên lại trầm ngâm một lúc, rồi nhẹ nhàng hỏi tôi:

“An có biết vì sao ngày đó Chương ra đi không?”

Hỏi, như một cách để san sẻ nỗi niềm cùng nhau, chứ không phải để chờ đợi câu trả lời, anh nói tiếp:

“Khi đó Chương yêu một cô gái. Trong một lần đi dã ngoại, Chương đã làm cô ấy có thai. Lúc biết điều nầy, anh ấy rất hoảng loạn, vì hai gia đình không hợp để có thể đến với nhau. Chưa biết phải làm sao thì tình hình chiến sự càng lúc càng căng thẳng, thế rồi Chương đột ngột theo gia đình di tản, cũng là cách để trốn tránh sự việc kia. Khi sang xứ người, đây chính là điều mà anh ấy ray rứt. Nhiều lần Chương dự định về quê tìm lại người đó, nhưng do công việc nên chưa thể. Đến khi biết mình không còn sống được bao lâu, Chương quyết định về thăm quê, với mong mỏi thực hiện được ước nguyện bấy lâu.”

“Vậy Chương có tìm được người đó không?”

“Không, người đó không còn. Bởi cô gái ấy chính là Vy!”

Vy! Bây giờ đến lượt tôi bất ngờ. Hèn gì lần trước, khi cùng tôi lên núi Sam, Chương đã đột nhiên hỏi về Vy, người mà tôi còn cho rằng chẳng liên quan gì đến đám bạn chúng tôi. Hóa ra… Ngày đó, tại sao tôi lại không nhận ra tình cảm của Chương và Vy? Có lẽ, vì tôi cứ mải miết chạy theo tình cảm của mình. Nhưng mà… giờ đây suy nghĩ nữa làm gì? Mọi người rồi cũng đã trở thành những ký ức cũ kỹ, úa nhàu, nát vụn của nhau.

“Sao bao nhiêu năm nay Nguyên không cho An biết?”

“Nguyên chỉ mới biết gần đây thôi, do Chương kể trong dịp về Việt Nam vừa rồi. Nhưng mà… Chương muốn Nguyên giữ bí mật nầy khi nào Nguyên còn sống trên đời. Bây giờ Nguyên đã không còn, Chương nghĩ mọi chuyện nên được thả lên trời cho gió bay đi, cho những người ở lại được nhẹ lòng…”

Tôi thở ra một hơi rõ dài, rồi im lặng. Những người tin vào số phận thường than thở rằng ông trời trêu ghẹo con người. Những người chán nản nhân thế thường đổ lỗi rằng thời cuộc đã đẩy đưa họ vào những quyết định không thể chọn lựa khác đi. Nếu nhìn một cách bi quan, chúng tôi là “nạn nhân” của cả số phận và thời cuộc. Tình yêu đã kéo trì chúng tôi lại, nhưng chiến tranh đã đẩy chúng tôi đi qua xa. Thôi thì, không trách cứ điều gì để làm chi. Cuộc sống đã là vậy, đành phải chấp nhận như vậy.

Nụ cười của Chương trên núi hôm đó, sau ba mươi năm gặp lại, đối với tôi vẫn như nụ cười của cậu học trò ở ngôi trường nhỏ ngày xưa. Có khác chăng là giờ đây, nụ cười nầy phảng phất chút u buồn, hoài niệm, đăm chiêu. Phải chăng, hình ảnh đó đã gieo vào lòng tôi như gốc cây bền chặt buộc rễ vào lòng đất? Và có phải, hình ảnh đó cũng mơ hồ như cái thứ được định danh là “hạnh phúc” mà tất cả con người trên thế gian nầy luôn tìm bắt, dẫu rất mông lung.

Thôi thì một lần vẫy tay chào nhau, là lần sau chót.

 

VĨNH THÔNG

(Tác phẩm đăng trên Tạp chí Thế giới trong ta, số 531, 2022)

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét