Cồn Tiên, tiểu cù lao mảnh khảnh thơ mộng nằm nghiêng trên ngã ba dòng sông Hậu, hướng đông bắc thị xã Châu Đốc của vùng địa linh nhân kiệt, tiền tam giang hậu Thất Sơn. Cũng vào mùa hạ cách đây 32 năm, hoa phượng vĩ cháy đỏ rực cả sân trường, báo hiệu rung cảm một tình yêu học trò lại sắp bắt đầu sang trang mơ mộng cho một niên học. Hình như ngày bãi trường năm ấy, có gì khang khác ngây thơ và trong trắng lạ thường.
Lúc đó, những
gian hàng lưu niệm của miền Tây sông nước, tràn đầy những dòng thơ tình Trịnh Bửu
Hoài được trích từ hai tập Thơ tình và Người hành hương tình yêu,
ghép trên những mảnh gỗ quý nghệ thuật bày bán khắp nơi như món quà lưu niệm
tình yêu.
Giai đoạn nầy, ở
Biên Hòa, một vùng đất ngựa tế, cũng xuất hiện một tài hoa sừng sỏ khác. Tôi muốn
nhắc tới Nguyễn Tất Nhiên, trong sự trang trọng và thân tình. Nguyễn Tất Nhiên
cũng xuất hiện được vài tác phẩm, và nổi bật về những bài thơ tình được nhạc sĩ
Phạm Duy phổ nhạc, một thời gây sóng gió tin yêu. Vội vã Nguyễn Tất Nhiên ghé
Sài Gòn thăm tôi, khi đọc được hai tập thơ đầu tay của Trịnh Bửu Hoài. Hào sảng
và tươi trẻ, Nguyễn Tất Nhiên vào ngay câu chuyện hứng khởi về thơ tình của
Hoài. Cả hai anh em văn nghệ đồng song, hình như đã tìm được một ngộ cảm quan
hoài cho nhau. Nguyễn Tất Nhiên hẹn một ngày gần nào đó, tháp tùng với tôi xuôi
về Thất Sơn tương ngộ và hàn huyên với Trịnh Bửu Hoài, về quan niệm sáng tạo
nghệ thuật.
Thời gian trôi
nhanh, mỗi người mỗi ngả, dù cách biệt muôn dặm xa xôi, nhưng ở tâm hồn người
nghệ sĩ vẫn có những lúc giao thoa cùng nhau một cách diệu kỳ. Tuy rời Thất
Sơn, nhưng tôi vẫn thường xuyên theo dõi từng bước đi văn nghệ của anh em,
trong đó, Trịnh Bửu Hoài như một loài hoa hướng dương quý hiếm mà tôi hằng kỳ vọng
sẽ thiên khai rực rỡ bên dòng sông Hậu hiền hòa, đầy phù sa của quê tôi. Dĩ
nhiên, mỗi tác phẩm mới của Trịnh Bửu Hoài tôi đều nghiền ngẫm nghiệm thu. Từng
tập thơ tình đến những trường ca, Trịnh Bửu Hoài quả nhiên sống rất thực với nỗi
đau của lòng mình, với tình yêu, với bằng hữu. Ở từng câu thơ, phải chăng là sự
phát tiết trung thực, từ tấm lòng nhân bản của một người làm thơ thấm nhuần đạo
lý Đông phương. Tôi nhớ, có lần nhà thơ Trần Hữu Dũng kể Trịnh Bửu Hoài tâm sự
muốn chỉ là nhà thơ thuần khiết, và viết như người gieo hạt… Trần Hữu Dũng tán
dương, điển hình thi phẩm Quê xa, tập thơ thứ 10 của Trịnh Bửu Hoài, là
một tập thơ đầy hơi thở Lão Trang điền dã, ung dung tự tại, lẳng lặng chinh phục
tha nhân. Vì vậy, thơ Trịnh Bửu Hoài có nét riêng biệt đằm thắm, dân dã tạo cho
văn nghệ đồng bằng thêm phong phú, đa dạng.
Phải chăng, ở
đây, với một tài năng lớn, bằng hữu văn nghệ kỳ vọng nhiều bước đột phá dữ dội
hơn ở Trịnh Bửu Hoài? Sự yêu quý của anh em, đã được đền đáp, dù bận bịu đầu tắt
mặt tối với mọi công việc điều hành ở Hội, nhưng anh vẫn được nhiều Nhà xuất bản
trong cả nước, lần lượt giới thiệu đều đặn từng tác phẩm. Càng ngày, thơ anh
càng đi sâu vào cái Tâm, dòng thơ chuyển biến theo từng bước thời gian. Thơ được
khắc họa theo từng hơi thở mới, trên đường xuôi dọc giang hồ. Thật vậy, thơ Trịnh
Bửu Hoài càng lúc, càng thấm đậm nhân hậu, đầy nghĩa khí, ngan ngát tình người,
khác hẳn sự ngây thơ trong trắng của những tập thơ tình thời cắp sách xa xưa.
Có lúc, tôi so sánh giữa hai chàng thi nhân, một Nguyễn Tất Nhiên tân thời quần
jean áo pull, tràn ngập sáng tạo, nhí nhảnh đầy chua cay, với một chàng Trịnh Bửu
Hoài nhỏ nhẹ, áo lụa trắng trẻo, môi cắn một cành lá xanh mỏng mảnh có một cánh
hoa mười giờ đỏ rực. Và thật tức cười, ý nghĩ của tôi vừa phát biểu, thì Nguyễn
Tất Nhiên thích thú cười vang, đồng ý ngay.
Thật tình, Trịnh
Bửu Hoài rất tài hoa ở nhiều lãnh vực nghệ thuật, từ hội họa, thi ca, văn… Tuy
nhiên, có lúc Hoài tâm sự chỉ muốn là một nhà thơ, hay đúng hơn là một nhà thơ
tình yêu. Quý hóa thay, sự chân thành mộc mạc của một văn nghệ sĩ, đang soi
gương tìm lại chân dung chính mình. Tác phẩm của Trịnh Bửu Hoài, chồng chất
theo thời gian, xuất bản riêng đã gần 50 tác phẩm, in chung có lẽ hơn 100. Có dạo,
khoảng hơn 10 năm trước các tác phẩm văn xuôi của anh, hầu như chiếm lĩnh cả thị
trường bạn đọc. Hầu hết, các Nhà xuất bản đều đặt trước, để nhận truyện dài của
Trịnh Bửu Hoài ưu tiên hơn. Lúc đó, có những tác phẩm của anh tái bản cả chục lần
với hàng trăm ngàn bản. Trịnh Bửu Hoài rực sáng, nổi tiếng như diều gặp gió.
Thì, trong khoảng thời gian đó, tôi bắt đầu lo lắng cho bản chất thơ của Trịnh
Bửu Hoài. Dù anh bày tỏ tâm niệm vẫn thích là một nhà thơ, nhưng biết đâu xã hội
muôn màu, sẽ đưa đẩy Trịnh Bửu Hoài bước qua một lãnh vực không tròn tâm ý. Tôi
thầm tiếc lẻ loi, cho hai dòng thơ tình, một của Đông Nam Bộ và một của Tây Nam
Bộ, sẽ lặng lẽ về xuôi…
May mắn thay,
có lẽ Trịnh Bửu Hoài cũng cảm nhận như thế, nên qua đầu thế kỷ mới, ngoài ký sự,
biên khảo, anh trở ngoặt lại dòng thi ca của chính mình, dòng thi ca đã gây dựng
nên hình vóc trưởng thành linh hoạt của nhà thơ Trịnh Bửu Hoài. Và, kỳ diệu
thay, thơ anh càng lúc càng sâu thẳm tình người, tình bằng hữu. Càng đi vào
thơ, sáng tác mới càng lúc càng uy nghi, hào sảng và vững chãi với thời gian.
Càng lúc, mưa dầm
thấm đất, tất cả nguồn cội nhân sinh như bật rễ vươn lên trước một dòng thơ
phiêu du năm tháng. Thế sự, bằng hữu, đạo nghĩa cứ chồng chất lên vai, ngày qua
ngày, càng quẫy nặng tâm thức. Cái nhìn trong thơ Trịnh Bửu Hoài càng chín đỏ,
rung động sâu sắc của tuổi trung niên. Nhiều lúc thoáng nhìn lại người trăm
năm, hay những khúc tình ca trỗi nổi tuổi thanh niên, của những chiều thu lạc,
mà Trịnh Bửu Hoài như con đò nhỏ lạc bến hoàng hôn, như Trang Tử mơ thành bướm
dịu dàng đậu xuống đời em… Qua rồi, những cuộc hành hương tình yêu, vỗ đàn ca lồng
lộng, đóng vai đạo sư gánh nỗi buồn xuống núi, uống đầy những bát trăng vàng, vỗ
sầu mà hát long đong… Bỗng nhiên, dòng thơ anh chợt rung chuyển, biến thiên
trên từng bước du hành. Tình cảm xoay chiều ngoạn mục trong tình quê, tình bằng
hữu. Bóng dáng người cha cần cù, mái tóc phai màu theo nắng mưa, còng lưng bên
ngõ trúc. Bóng dáng mẹ già tóc trắng như lau, ngoáy từng miếng trầu khuya buồn
đứt ruột, trông ngóng cánh cò phương xa quê người bay về trong bước chiêm bao.
Trong giai đoạn gần mười năm trở lại đây, Trịnh Bửu Hoài oằn vai trách nhiệm
nghệ thuật ở đồng bằng, lang thang như cánh mây phiêu du trên khắp nẻo đường
quê hương. Chính nhờ vậy, thơ anh nhiều lúc bay bổng. Giữa đêm khuya chợt nghe
Dạ cổ hoài lang trên Tam Đảo. Lúc ôm hồn nước nổi ở đồng Tứ giác Long Xuyên. Có
khi xuôi về tận Sa Pa với cô gái Mèo hồn nhiên ánh mắt. Lúc như đại thụ, ngồi
trầm mặc ở núi Yên Tử… Nhưng có lẽ làm tôi xúc động và nhập tâm nhất là giai đoạn
Trịnh Bửu Hoài thả hồn thơ lang bạt xuyên sơn dịu vợi, đồng cảm với tình bằng hữu.
Từ những buổi chiều ở Kinh Bắc, những đêm ngất ngưởng giữa hồ Trúc Giang, bên cốc
rượu đế nồng sủi bọt, cứ rót như rót bóng mình trong đáy cốc, khiến đạo sư
buông trắng cả hai tay.
Bản chất của Trịnh
Bửu Hoài rất hiền dịu, lãng bạt và chân thật như núi, nên tình bạn thâm giao,
tri âm tri kỷ, là một cứu cánh vĩnh cửu khiến anh xúc cảm viết ra nhiều bài thơ
đau lòng, khóc bạn. Khóc khi đưa linh cữu Phạm Hữu Quang về Bắc Đuông, gói hết
chí cao như núi, áo giang hồ cuồn cuộn gió phương đông kết thành tinh tú soi lấy
một kiếp người. Khóc khi ngược dòng Tứ Sở, như hồn Phạm Thường Gia lẩn khuất
trong bóng chiều rơi trên vùng biên giới, mà bạn đã bỏ ta về nơi diệu vợi, biết
có còn thơ rượu để mà hư…
Quả thật, càng
lúc thế giới thơ Trịnh Bửu Hoài như sương khói, càng lúc lan rộng giữa vùng tịnh
yên. Cũng như, càng lúc, người ta càng miệt mài đi tìm dòng thơ mới cho thi ca
Việt Nam. Thật giả lẫn khuất chưa định hình, thì Trịnh Bửu Hoài ôm cả trời thơ
lãng bạt, đầy tràn trách nhiệm, có cội có nguồn. Vì vậy, nét cổ phong trong thơ
Trịnh Bửu Hoài phảng phất một sự êm dịu, hạnh phúc, như nắng xôn xao réo gọi
bình minh thiên niên kỷ, soi xuống tận nhân bản thuần hậu của loài người…
Viết
tại Thư trang Quang Hạnh, tháng 6/2006
NGÔ
NGUYÊN NGHIỄM
Comments[ 0 ]
Đăng nhận xét