Địa danh Náo Khẩu được nhắc đến từ rất sớm. Đại Nam thực lục cho biết vào năm 1816, vua Gia Long bàn bạc với triều thần về đào kinh Châu Đốc, khi ấy đã nhắc đến địa danh nầy: “Bàn khơi sông Châu Đốc, sai bọn Lưu Phúc Tường và Nguyễn Đức Sĩ đem đo đường đất (từ mặt sau bảo Châu Đốc đến các xứ Náo Khẩu, Cây Báng) vẽ bản đồ dâng lên” [Quốc sử quán triều Nguyễn 2002: 926]. Trong Gia Định thành thông chí công bố năm 1820, đoạn viết về kinh Vĩnh Tế cũng nhắc đến địa danh nầy: “Trừ Náo Khẩu 4075 tầm không phải thêm công, thực lực phải đào là 26279 tầm” [Trịnh Hoài Đức 1999: 58].
Cũng trong Gia Định thành thông chí, Náo Khẩu Ca Âm được mô tả: “Ở giữa sông Vĩnh Tế, bề dài hơn 18 dặm rưỡi, bề ngang bằng một nửa, sâu trên dưới 5 thước, hình tròn có vụng có mỏn, như hình hoa sen, hoa phù dung do bóng tà dương chiếu, phía Nam gối núi Ca Âm, nhân lấy đó mà gọi tên. Các núi Ngất Sum bày ở phía Đông, các núi Chân Sum bọc ở phía Tây, khí tụ phong tàng, nước trong leo lẻo, hoa sen ngào ngạt thơm nức trăm dặm, cá mú không thể xiết ăn” [Trịnh Hoài Đức 1999: 59].
Ngoài ra trong tác phẩm nầy, khi liệt kê các ngọn núi ở trấn Vĩnh Thanh lúc bấy giờ, Náo Khẩu tiếp tục được nhắc đến rất nhiều lần: Núi Ca Âm cách điểm đầu Náo Khẩu về phía Đông Nam 3 dặm. Núi Nam Sư cách Náo Khẩu về phía Đông Nam 2 dặm rưỡi và nằm ở phía Nam núi Ca Âm. Núi Khê Lạp cách Náo Khẩu về phía Đông Nam 5 dặm, nhường núi Ca Âm mà lui về phía Đông Nam. Núi Tốt cách Náo Khẩu về phía Đông Nam 1 dặm rưỡi và nằm ở đầu phía Bắc núi Tà Biệt. Núi Tà Biệt không cùng dãy với các núi khác mà lệch một bên Náo Khẩu. Núi Thâm Đăng cách cuối dòng Náo Khẩu về phía Tây 1 dặm và nằm ở phía Đông núi Chân Sum [Trịnh Hoài Đức 1999: 50-51].
Với tần suất xuất hiện nhiều như thế, cho thấy Náo Khẩu Ca Âm được xem như một địa điểm “cột mốc” để tác giả xác định vị trí của các ngọn núi xung quanh. Ngược lại, nhờ vậy mà người đời sau có thể phần nào dựa vào thông tin của các ngọn núi để xác định trở lại vị trí của Náo Khẩu trên thực địa. Song, đáng tiếc là phần lớn những tên núi nêu trên không giống với tên núi được sử dụng ngày nay, do đó giới nghiên cứu gặp khó khăn khi tìm kiếm vị trí chính xác của Náo Khẩu.
Trước tiên cần xác định, Náo Khẩu Ca Âm là một đoạn của kinh Vĩnh Tế ngày nay, nên nó phải nằm theo hướng Đông Bắc - Tây Nam, vì dòng kinh chảy theo hướng đó. Tiếp đến, tổng hợp những thông tin vừa liệt kê, chúng tôi tạm giới hạn các điểm mốc xung quanh Náo Khẩu như sau:
- Phía Nam: núi Ca Âm ngang với điểm đầu Náo Khẩu
- Phía Đông Nam: núi Nam Sư, núi Khê Lạp, núi Tốt ngang với điểm cuối Náo Khẩu
- Phía Đông: núi Ngất Sum
- Phía Tây: núi Chân Sum, núi Thâm Đăng ngang với điểm cuối Náo Khẩu.
Trong đó, thông tin mô tả về ba ngọn núi Ca Âm, Nam Sư, Khê Lạp trong Gia Định thành thông chí chưa đủ cơ sở để đối chiếu với thực địa ngày nay, nên ba ngọn núi nầy tạm thời chưa thể xác định. Núi Thâm Đăng và Chân Sum hiện nay không nằm trong lãnh thổ Việt Nam mà thuộc Cambodia, do quá trình phân định biên giới thời Pháp thuộc. Núi Thâm Đăng có tên Khmer là Phnom Den, thuộc xã Phnom Den, huyện Kiri Vong, tỉnh Takeo và nằm cách cửa khẩu Tịnh Biên khoảng 2,5 km. Núi Chân Sum thực chất là một cụm núi trên địa bàn huyện Kiri Vong, người Khmer có tên riêng cho từng trái núi trong cụm. Tên gọi Chân Sum mà thư tịch Việt Nam sử dụng bắt nguồn từ địa danh Choan Chum ngày xưa, ngày nay ở huyện Kiri Vong vẫn còn một xã mang tên là Preah Bat Choan Chum.
Một số tên núi khác, chúng ta có thể xác định được ngọn núi tương ứng ngày nay. Núi Ngất Sum là núi Dài Lớn, còn gọi là núi Dài Văn Liên, tên chữ là Ngọa Long sơn, tọa lạc trên địa bàn các xã Lương Phi, Ô Lâm, Lê Trì và thị trấn Ba Chúc, huyện Tri Tôn. Xác định như thế vì tên gọi Ngất Sum gần âm với tên gọi của núi nầy trong tiếng Khmer là Okdum, có nghĩa là diều ó. Núi Tà Biệt là núi Tà Béc, còn gọi là núi Phú Cường, tọa lạc tại xã An Nông và thị trấn Tịnh Biên, huyện Tịnh Biên. Núi Tốt là núi Nhọn, tọa lạc tại thị trấn Tịnh Biên, huyện Tịnh Biên. Xác định như thế vì núi Tốt được ghi nhận là nằm ở đầu phía Bắc của núi Tà Biệt, mà trên thực địa chỉ duy nhứt núi Nhọn nằm ở vị trí đó.
Nhận định rằng núi Ca Âm là dấu hiệu quan trọng hàng đầu để tìm kiếm Náo Khẩu Ca Âm, qua những dữ kiện vừa nêu, chúng tôi nhận thấy có hai ngọn núi đáp ứng các đặc điểm như trên:
(1) Núi Ca Âm là núi Dài Năm Giếng, còn gọi là núi Dài Nhỏ, tên chữ là Ngũ Hồ sơn, tọa lạc tại xã An Phú, huyện Tịnh Biên. Khi đó, Náo Khẩu sẽ thỏa các đặc điểm: núi Ca Âm ở phía Đông Nam, núi Chân Sum và Thâm Đăng ở phía Tây, bên cạnh có núi Tà Biệt. Song, nó không thỏa đặc điểm núi Ngất Sum ở phía Đông, vì khi ấy núi nầy ở phía Tây Nam.
(2) Núi Ca Âm là núi Tượng, tên chữ là Liên Hoa sơn, tọa lạc tại thị trấn Ba Chúc, huyện Tri Tôn. Khi đó, Náo Khẩu sẽ thỏa các đặc điểm: núi Ngất Sum ở phía Đông, núi Chân Sum ở phía Tây, núi Tà Biệt lệch một bên. Song, nó không thỏa đặc điểm núi Thâm Đăng ở phía Tây, vì khi ấy núi nầy ở phía Đông.
Hai trường hợp nầy có không ít tương đồng với nhận định của hai nhà nghiên cứu đi trước. Cách đây nửa thế kỷ, Nguyễn Văn Hầu [1972: 187] đoán rằng “vũng Ca Âm nằm khoảng trong ngoài quận lị Tịnh Biên chạy dài đến gần núi Cậu ngày nay”, nhưng chưa thể xác định núi Ca Âm là núi nào. Vị trí Náo Khẩu mà tác giả phỏng đoán tương đương từ xã An Phú đến thị trấn Tịnh Biên, huyện Tịnh Biên ngày nay.
Gần đây, Trần Hoàng Vũ [2017: 232-233] cho rằng núi Ca Âm là núi Tượng ở thị trấn Ba Chúc, huyện Tri Tôn và phía Nam núi nầy ngày xưa có địa danh Giai Âm có thể bắt nguồn từ Ca Âm. Nếu vậy, vị trí Náo Khẩu có thể nằm ở xã Lạc Quới, bên cạnh thị trấn Ba Chúc, huyện Tri Tôn ngày nay. Tuy nhiên, suy đoán địa danh Giai Âm bắt nguồn từ Ca Âm cần xem lại. Giai Âm là một thôn dưới triều Nguyễn, đến năm 1925 bị Pháp nhập vào thôn An Tức, ngày nay là xã An Tức, huyện Tri Tôn. Từ đây đến núi Tượng và kinh Vĩnh Tế trên 15 km, với khoảng cách khá xa đó, việc Giai Âm bắt nguồn từ Ca Âm khó xảy ra.
Trở lại hai trường hợp vừa nêu, cả hai đều có phần tương đối hợp lý, nhưng vẫn có điểm chưa ổn. Điều nầy một phần do sự hạn chế về trình độ, phương pháp, công cụ… trong quá trình đo đạc và biên soạn sách địa chí ngày xưa, dẫn đến cung cấp nhiều thông tin chưa chính xác. Bởi thế, dù có thể tìm ra được vị trí của Náo Khẩu, có thể nó vẫn không đáp ứng trọn vẹn các đặc điểm nói trên. Để tìm kiếm thêm dữ liệu về địa danh Náo Khẩu Ca Âm, chúng tôi tiếp tục tra cứu các thư tịch khác của triều Nguyễn, phát hiện địa danh nầy xuất hiện trong Địa bạ tỉnh An Giang. Dù tác phẩm được hình thành năm 1836, công trình đào kinh Vĩnh Tế đã hoàn tất và Náo Khẩu đã không còn, nhưng nó vẫn được nhắc đến. Địa bạ của thôn Vĩnh Thạnh, tổng Châu Phú, huyện Tây Xuyên, tỉnh An Giang cho biết:
“Vĩnh Thạnh thôn, ở xứ Náo Khẩu tả ngạn.
- Đông giáp địa phận thôn Nhơn Hòa.
- Tây giáp địa phận thôn An Thạnh.
- Nam giáp núi Đất và địa phận sóc Rày Lộc.
- Bắc giáp sông Vĩnh Tế” [Nguyễn Đình Đầu 1995: 252].
Cả ba thôn được đề cập gồm Vĩnh Thạnh, Nhơn Hòa và An Thạnh hiện nay đều không còn địa danh. Tuy nhiên, chúng ta vẫn có thể tìm ta được vị trí tương đối của chúng, bởi vào năm 1925, hai làng An Thạnh và Phú Thạnh hợp thành làng An Phú, hai làng Nhơn Hòa và Vĩnh Hưng nhập thành làng Nhơn Hưng [Nguyễn Đình Tư 2017: 201]. Địa danh An Phú và Nhơn Hưng ngày nay vẫn tồn tại với tư cách là hai xã thuộc huyện Tịnh Biên, như vậy thôn Nhơn Hòa là một phần của xã Nhơn Hưng và thôn An Thạnh là một phần của xã An Phú. Bên cạnh đó, núi Đất ngày nay vẫn còn tên gọi và cũng thuộc xã An Phú.
Thôn Vĩnh Thạnh ngày xưa nằm ở tả ngạn của Náo Khẩu, phía Bắc giáp kinh Vĩnh Tế và phía Nam giáp núi Đất. Đối chiếu với thực địa hiện nay, địa bàn thôn Vĩnh Thạnh thuộc xã An Phú, huyện Tịnh Biên và Náo Khẩu tương ướng với đoạn kinh Vĩnh Tế chảy qua khu vực nầy. Từ đó, có thể xác định núi Ca Âm là núi Dài Năm Giếng ngày nay.
Quay lại với các mô tả ban đầu, núi Ca Âm (núi Dài Năm Giếng) ở phía Nam và ngang với phần đầu của Náo Khẩu, núi Tốt (núi Nhọn) ở phía Đông Nam và núi Thâm Đăng (Phnom Den) ở phía Tây - cả hai đều ngang với phần cuối của Náo Khẩu, dãy Chân Sum bao bọc Náo Khẩu về phía Tây. Náo Khẩu dài 18 dặm rưỡi tức khoảng 8 km, nếu lấy điểm đầu và điểm cuối như trên, thì nó kéo dài từ ấp Phú Nhất của xã An Phú đến khóm Xuân Bình của thị trấn Tịnh Biên, cùng thuộc huyện Tịnh Biên.
Náo Khẩu Ca Âm dù không quá to lớn, nhưng với tần suất xuất hiện rất nhiều lần trong các thư tịch triều Nguyễn, chứng tỏ nó là một điểm mốc quan trọng để xác định vị trí của những đối tượng xung quanh trong vùng Thất Sơn, tỉnh An Giang. Mặt khác, kinh Vĩnh Tế đi qua đầm lầy nầy giúp nhân công có một đoạn không cần đào, khiến nó trở thành một địa điểm quan trọng đối với giới nghiên cứu về kinh Vĩnh Tế. Đáng tiếc là do dấu vết không còn, cộng thêm dữ liệu ít ỏi và khá mơ hồ, khiến trước nay địa điểm vẫn chưa được xác định. Việc phát hiện vị trí chính xác của Náo Khẩu Ca Âm sẽ góp phần bổ khuyết vào khoảng trống lịch sử ấy, đóng góp thêm tư liệu trong nghiên cứu về kinh Vĩnh Tế.
VĨNH THÔNG
(Bài đăng trên Tạp chí Thất Sơn, số 276, 2021 &in trong
sách Phong vị Nam Hà, Nxb Tổng hợp TP.HCM, 2024)
_______________________
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1. Nguyễn Đình Đầu (1999), Nghiên cứu địa bạ triều Nguyễn: An Giang, NXB TP. HCM
2. Nguyễn Đình Tư (2017), Địa chí hành chính các tỉnh Nam Kỳ thời Pháp thuộc (1825 - 1954), NXB Tổng hợp TP. HCM.
3. Nguyễn Văn Hầu (1972), Thoại Ngọc Hầu và những cuộc khai phá miền Hậu Giang, NXB Hương Sen.
4. Quốc sử quán triều Nguyễn (2002), Đại Nam thực lục, Tập 1, Viện Sử học dịch, NXB Giáo dục.
5. Trần Hoàng Vũ (2017), Thoại Ngọc Hầu qua những tài liệu mới, NXB Tổng hợp TP. HCM.
6. Trịnh Hoài Đức (1999), Gia Định thành thông chí, Viện Sử học dịch, NXB Giáo dục.
Comments[ 0 ]
Đăng nhận xét