Họ nói, những chiếc lá ấy có linh hồn. Thoáng nghe, tôi nửa tin nửa ngờ, không biết thứ linh hồn mà họ nói đến ở đây là gì. Lá nào đều là lá thôi, người ta có thể làm rau ăn, thuốc trị bịnh, hay dùng để gói món ăn, thậm chí là lợp nhà… đủ công dụng. Nhưng đến khi tận mắt chiêm ngưỡng những mảnh lá ở “báu vật” của họ, tôi mới hiểu quả là chúng có linh hồn. Đó là hồn của chữ, đúng hơn là hồn của lớp lớp thế hệ người Khmer đã gởi gắm.
Thất Sơn chiều
nay nắng nhẹ, không gắt gao như thường ngày, nhưng mặt đất pha cát vẫn hắt lên
cái nóng ran rát. Vậy mà trong chùa Soài So, không khí lại mát mẻ hẳn, do chùa
có mái cao và nền cũng cách xa mặt đất. Với nụ cười mát lành như thế, nhà sư Chau
Ty lần giở từng tấm lá mỏng mảnh, trong sự kính cẩn hết mức có thể. Khi lớp vải
bọc bên ngoài được mở ra, những mảnh lá xuất hiện trước mắt mọi người. Dù mặt
lá đã úa vàng theo thời gian, nhưng những con chữ được khắc chi chít trên đó vẫn
còn rõ ràng, mềm mại, thanh thoát. Các đường nét uyển chuyển ấy dường như vẽ ra
cả lịch sử thăng trầm của người Khmer ở mảnh đất biên giới nầy.
Hòa thượng Chau Ty - Sư cả (trụ trì) chùa Soài So kể, chùa ngày xưa nằm ở lưng chừng núi Tô. Trong thời kỳ chiến tranh, chùa nhiều lần bị phá hoại hư hỏng. Sau hòa bình, chùa được di dời về vị trí hiện nay, nằm giữa một cánh đồng rộng lớn. Ngôi chùa đã nhiều lần bị hư hại do chiến tranh, thiên tai, hỏa hoạn… Chẳng hạn gần đây nhứt, một đám cháy thiêu rụi nửa chánh điện vào năm 2015, nhiều cổ vật bị hủy hoại. Ấy vậy mà kỳ lạ thay, sau biết bao biến cố, có một “báu vật” luôn nguyên vẹn. Đó là bộ kinh Phật được viết trên lá buông.
Đại Trưởng lão [1] Chau Ty sanh năm 1941, pháp danh Khanh Đek Kô, hiện nay là nhà sư cao tuổi nhứt trong cộng đồng Phật giáo Khmer tỉnh An Giang. Xuất gia từ năm 17 tuổi, nhà sư có nhiều năm tu học ở khắp các ngôi chùa Khmer vùng Bảy Núi. Đến tuổi ngoài đôi mươi, ông bắt đầu học cách viết kinh lá buông. Sau mấy năm miệt mài rèn luyện, khi người học trò thành thạo kỹ thuật, thì người thầy truyền dạy cho ông cũng qua đời. Từ đó, Hòa thượng tiếp nối công việc quan trọng mà các bậc tiền nhân đã lưu truyền.
Buông là loài
thực vật thuộc họ Cau, lá dài và nhọn, xòe thành hình quạt, gần giống cây thốt
nốt. Cây buông sinh trưởng tốt ở vùng đồi núi, phân bố chủ yếu ở khu vực Đông
Nam Á lục địa như Thái Lan, Lào, Cambodia, Việt Nam… Theo lời kể của các bậc
cao niên, trước đây cây buông mọc rất nhiều ở vùng Thất Sơn thuộc tỉnh An
Giang, một số khu vực ven sông Tiền và sông Hậu. Thấy đặc tính lá buông có độ bền
cao, người Khmer đã sử dụng nó để chép kinh Phật.
Để khắc kinh, không
phải lá buông nào cũng có thể sử dụng. Trái lại, lựa chọn lá là quá trình rất kỳ
công với các yếu tố như màu sắc, độ dày, tuổi lá… Không chỉ thế, người Khmer
cho rằng hái lá làm kinh là việc thiêng liêng, thắp nhang khấn Phật rồi mới tiến
hành. Sau khi hái, lá được phơi khô, bào bề mặt, rồi ngâm vào loại dung dịch bí
truyền của người Khmer để tăng độ bền, giảm rủi ro hư rách, cũng như ngăn ngừa
côn trùng cắn phá, nhờ vậy có thể bảo quản được lâu dài.
Đến công đoạn
khắc chữ, cần có một loại bút chuyên dụng, làm bằng gỗ, mũi được bọc sắt nhọn.
Tấm lá được đặt lên một thanh gỗ dẹp, người chép kinh dùng tay trái để giữ
thanh gỗ và tấm lá, còn tay phải thì khắc chữ, nhưng trong lúc đó ngòi bút phải
tựa vào ngón cái của bàn tay trái. Điều đó đòi hỏi sự kết hợp nhịp nhàng giữa
hai bàn tay. Mặt khác, lực nhấn bút phải được giữ đều đặn xuyên suốt quá trình
viết, nếu quá nhẹ thì chữ không rõ, nếu quá mạnh thì lá bị rách.
Công đoạn nầy
thực chất chỉ mới là khắc những đường nét lên mặt lá buông. Để chữ được hiện ra
rõ ràng, người Khmer sử dụng than hoặc trái mặc nưa trộn với dầu thông để quét
lên mặt chữ, rồi lau sạch. Màu đen của hỗn hợp nầy “ăn” vào các nét khắc, làm nổi
bật con chữ trên mặt lá. Sau cùng, các lá kinh được đóng thành cuốn kinh hoàn
chỉnh.
Quá trình chế
tác kinh lá buông kỳ công là vậy, nhưng quan trọng hơn là sự tâm huyết với công
việc và sự tài hoa của người viết kinh. Nếu thiếu kiên nhẫn hay thiếu tính thẩm
mỹ, những bản kinh không thể hoàn thành trọn vẹn. Bên cạnh đó, sự định tĩnh là
yếu tố không thể thiếu, đòi hỏi người viết kinh phải tập trung cao độ. Bởi chỉ
cần sơ xuất một chút, khiến một nét chữ bị khắc sai, xem như phải bỏ cả lá
kinh. Do vậy, để chép xong một bộ kinh có khi mất hàng tháng trời.
Hòa thượng Chau
Ty lấy ra những lá buông cuối cùng mà nhà chùa còn lưu giữ. Đặt một tấm lá lên
thanh gỗ, dùng tay trái giữ lại, tay phải bắt đầu thoăn thoắt những đường bút.
Ông nói rằng mình đã lớn tuổi, mắt mờ, tay run, cho nên chữ không còn đẹp như hồi
trẻ. Nói là vậy, nhưng trong mắt người khách phương xa, người ta thấy một nghệ
sĩ đang tung tẩy với con chữ, và thấy cả tâm huyết cả đời của nhà sư già vùng
Thất Sơn. Các dòng kinh cứ thế hiện ra, đều đặn, uyển chuyển, thẳng tắp.
Người đời thường
ví von những nghệ sĩ “xuất thần” như thiền sư. Song ở đây, không cần phải ví
von nữa, nghệ sĩ thực sự là một thiền sư. Hay phải chăng, thiền sư là một nghệ
sĩ lánh đời? Dường như không còn có những ranh giới phân biệt. Nghệ sĩ cũng được,
thiền sư cũng xong, thậm chí ông là tấm lá, là cây bút, là con chữ… là không gì
cả. Nhà sư ngồi trong tư thế thiền, hít thở đều đặn, mọi thứ xung quanh ngưng bặt,
chỉ có tiếng chim hót ríu rít sau vườn chùa, trong veo đến lạ.
Suốt nửa thế kỷ
qua, Hòa thượng đã miệt mài làm ra không biết bao nhiêu bộ kinh lá buông để tặng
cho các ngôi chùa Khmer trong vùng, đến nay chính ông cũng không nhớ hết. Nhà
sư già mỉm cười, ôn tồn nói: “Đức Phật dạy, khi muốn làm một điều gì, hãy phản
tỉnh nhiều lần. Nếu hành vi đó có thể đưa đến hại mình, hại người, hại cả hai,
thời nó là bất thiện, đưa đến đau khổ, nhất định chớ có làm. Nếu hành vi đó
không có thể đưa đến hại mình, hại người, hại cả hai, thời nó là thiện, đưa đến
an lạc, hãy nên làm.”
Vậy là,
ở đâu có nhu cầu thỉnh kinh lá buông, người ta lại tìm đến chùa Soài So nhờ Hòa
thượng Chau Ty. Cứ mỗi bộ kinh được làm xong, người Khmer đều tổ chức lễ cung
đón về chùa rất long trọng. Sau đó, họ cất giữ kinh ở những vị trí tôn nghiêm
trong chùa, không sử dụng tùy tiện. Chỉ khi nào phum sóc có các lễ hội quan trọng,
kinh lá buông mới được mang ra đọc tụng và giảng dạy cho mọi người. Làm sao có thể
quên những ngày lễ hội ấy. Dưới ánh trăng rờ rỡ, hòa quyện cùng ánh đèn dầu huyền
ảo, những nhà sư cầm kinh lá buông trên tay, trùng tuyên trước dân làng. Bên dưới,
hàng hàng lớp lớp người Khmer thành kính lắng nghe. Họ biết thế nào là những hạnh
phúc cao thượng, rộng mở tình thương đến tha nhân, cách xua tan những lo âu sợ
hãi… Phút giây đó, mọi người như lắng đọng với thời gian, nơi họ có mặt vừa là
xứ Xà Tón [2] hoang vu, nhưng cũng là mảnh đất Jetavana [3] vàng son mà hai mươi thế kỷ trước Đức Phật đã thuyết pháp trước hội chúng. Hầu hết người
Khmer, từ khi mở mắt chào đời đến lúc nhắm mắt lìa đời, đều thấm đẫm tinh thần
Phật giáo. Ngôi chùa không chỉ là cơ sở tôn giáo, mà còn là ngôi trường giáo dục
nhân cách cho mọi người. Và trong ngôi trường đặc biệt đó, những bộ kinh lá
buông có thể được xem là sách giáo khoa, đã đóng góp một sứ mạng lớn lao trong
quá trình thành nhân của mỗi con người. Do vậy đối với
người Khmer, kinh lá buông có giá trị vô cùng to lớn. Thậm chí họ đồn rằng,
kinh lá buông có khả năng trừ ma, yếm quỷ, trị bịnh… Song, điều đó không quan
trọng. Cốt lõi nhứt là qua từng trang kinh, con người thấu suốt hơn những lời dạy
của Đức Phật về tình yêu thương, trí tuệ, sự hướng thiện, tránh xa dục vọng…
Gác qua bao giai thoại tâm linh kỳ bí, chính những giá trị đạo đức khiến kinh
lá buông có vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần của người Khmer. Hiện nay, tỉnh
An Giang có hàng trăm bộ kinh lá buông được lưu trữ tại hàng chục ngôi chùa
Khmer ở hai huyện Tịnh Biên và Tri Tôn. Mỗi bộ kinh có khoảng 4 - 10 cuốn, mỗi
cuốn có khoảng 20 - 60 lá kinh, mỗi mặt lá có khoảng 4 - 5 hàng, mỗi hàng có
khoảng 15 - 20 chữ. Nếu không tính các bản kinh thất lạc do chiến tranh, thì
các bản kinh còn lưu giữ được đều không bị phai nét chữ hoặc mối mọt làm hư hại.
Đặc biệt, bộ kinh nào càng lâu năm càng trở nên bóng đẹp lạ thường. Điều đó cho
thấy đặc tính nổi trội của lá buông, nhưng đồng thời thể hiện những kinh nghiệm
quý báu của người Khmer trong kỹ thuật chế tác. Tuy nhiên… đã
lâu rồi người ta không tìm đến chùa Soài So nhờ Sư cả Chau Ty khắc kinh lá
buông nữa. Bởi, nguồn lá buông hiện nay gần như không còn nữa! Hình ảnh những
cây buông phủ khắp vùng Bảy Núi, mọc bạt ngàn khắp miệt sông Tiền, sông Hậu xưa
kia, giờ đây đã trở thành ký ức. Bao năm qua, ông không ngừng tìm kiếm nguồn lá
buông, hồi trẻ thì tự mình lặn lội khắp núi rừng để tìm, về già thì nhờ bà con
phum sóc tìm giúp trong những khi đi rừng. Song, tung tích về cây buông huyền
thoại ấy gần như vô vọng! Thậm chí, không ít người đã sang tận Cambodia để tìm
kiếm lá buông nhưng cũng rất khan hiếm. Có phải con người
đã đối xử không độ lượng với thiên nhiên, để giờ đây cây buông lặng lẽ xa rời
những nơi có dấu chân người? Phá rừng làm nương rẫy, tận diệt hệ sinh thái, xẻ
núi làm đường, khai thác du lịch ồ ạt, những dự án quy hoạch treo lơ lửng… có
phải càng lúc càng làm biến mất loài cây quý giá này? Cây buông đã lẩn trốn vào
góc khuất nào giữa núi rừng Thất Sơn tịch mịch, hay hoàn toàn lìa bỏ vùng đất
thiêng năm xưa? Bên cạnh đó, kỹ
thuật viết kinh lá buông không tìm được truyền nhân kế thừa, đó cũng là điều
khiến Hòa thượng Chau Ty trăn trở. Có một điều đặc biệt là dù ngày xưa có nhiều
người học cách viết kinh lá buông, nhưng các vị tổ sư tiền bối chỉ lựa chọn một
người ưu tú nhứt làm truyền nhân. Theo nguyên tắc đó, kỹ thuật chép kinh lá
buông ở chùa Soài So được truyền qua tám thế hệ, Sư cả Chau Ty là truyền nhân đời
thứ chín. Khi được báo chí gọi là “truyền nhân cuối cùng” của kỹ thuật viết
kinh lá buông, ông xem đó là nỗi buồn, chứ không phải là một vinh dự. Bởi, ông
hiểu rằng “danh hiệu” đó là lời báo hiệu cho một loại hình nghệ thuật của người
Khmer sắp đi vào quên lãng! Năm 2017, Tri
thức và kỹ thuật viết chữ trên lá buông của người Khmer tỉnh An Giang được vinh
danh là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Đại Trưởng lão Chau Ty cũng được
phong tặng danh hiệu Nghệ nhân ưu tú vào năm 2015 và Nghệ nhân nhân dân vào năm
2019. Những dấu ấn quan trọng đó tô đậm thêm giá trị của nghệ thuật viết kinh
lá buông của cộng đồng Khmer. Những năm qua,
nhằm bảo tồn nghệ thuật khắc kinh độc đáo nầy, tỉnh An Giang đã tạo điều kiện
cho Hòa thượng Chau Ty mở các lớp dạy chép kinh trên lá buông cho các tu sĩ
Khmer trong tỉnh. Đồng thời, dự án số hóa kinh lá buông được triển khai, nhằm
lưu giữ và quảng bá hình ảnh kinh lá buông. Bên cạnh đó, một số cây buông bắt đầu
được trổng thử nghiệm tại huyện miền núi Tri Tôn làm “nguồn” phát triển kinh lá
buông sau nầy. Tri Tôn chiều
xuống thật lặng yên. Trời đã khá mát mẻ, đám con nít lại lăng xăng vào chùa như
mọi ngày. Bên bậc thềm, nhà sư già gầy gò, dáng người dong dỏng cao, vừa chậm
rãi bước đi vừa lặng lẽ nhìn lũ trẻ. Bóng ông nghiêng nghiêng xuống mặt đất lởm
chởm những cỏ dại, gạch vụn, cát núi… khắc họa thành một hình ảnh cỗi cằn như
dáng cây thốt nốt đã hàng trăm năm soi xuống cuộc đất nầy. Cuối năm 2022,
trong Đại hội toàn quốc lần thứ IX ở thủ đô Hà Nội, Giáo hội Phật giáo Việt Nam
suy tôn Đại Trưởng lão Chau Ty vào ngôi vị Phó Pháp chủ - một trong những lãnh
đạo tinh thần tối cao của Giáo hội. Nhưng có lẽ, không phải ai cũng biết điều
đó. Trở về ngôi chùa cổ xứ Tri Tôn, ông vẫn là nhà sư già cặm cụi bên những lá
kinh úa vàng, như hàng chục năm qua vốn thế. Ông mãi là người con của núi, của
phum, của chùa, của những trang kinh lá trăm năm lắng sâu hồn chữ… “Ka na kru!” (Dạ
thưa sư!) Đám trẻ chắp
tay hình búp sen, cúi đầu lễ phép chào Sư cả. Trong những ánh mắt tinh khôi đó
giữa sân chùa chiều nay, ông nhìn thấy tương lai của văn hóa Khmer nơi ấy. VĨNH THÔNG (Tác phẩm đăng trên Tạp chí Thất Sơn, số 296, 2023) ––––––––––
[1] Danh hiệu “Mahāthera” theo truyền thống Phật giáo Nam Tông.
[2] Tên dân gian của vùng đất Tri Tôn ngày xưa.
[3] Nơi mà phần lớn kinh điển Phật giáo được thuyết giảng.
Comments[ 0 ]
Đăng nhận xét