1. Thân thế, gia đình
và thời đại
Ông Nguyễn Văn Thới, được nhân dân tôn kính gọi là ông Ba Thới hoặc ông Ba, sinh năm Bính Dần (1866). Quê quán tại làng Mỹ Trà, tổng Phong Thạnh, huyện Kiến Phong, phủ Kiến Tường, tỉnh Định Tường (nay thuộc phường Mỹ Trà, tỉnh Đồng Tháp). Thân phụ là ông Nguyễn Văn Đỏ, thân mẫu là bà Nguyễn Thị Buôn. Gia đình ông có năm anh em, trong đó người anh thứ hai không rõ danh tính, ông Nguyễn Văn Thới là con thứ ba, kế đến là bà Nguyễn Thị Tánh, bà Nguyễn Thị Kẹo và ông Nguyễn Văn Chơi. [1]
Ông Ba sinh trưởng trong một gia đình
trung nông nề nếp, ông được học chữ Nôm từ nhỏ với các thầy đồ trong làng. Nhờ
tư chất thông minh, chuyên cần, ông sớm thông hiểu kinh truyện Nho học, đọc
được Tứ thư, Ngũ kinh, đồng thời có năng khiếu sáng tác thơ văn
bằng chữ Nôm. Ngoài việc học, ông còn nổi tiếng là người thợ khéo léo, thành
thạo các nghề nhuộm, mộc và chạm khắc gỗ. Những sản phẩm do ông làm ra đều tinh
xảo, thể hiện óc thẩm mỹ và tay nghề điêu luyện.
Ông
Ba có dáng người cao lớn, mặt xương rắn rỏi, trán rộng, mắt sáng, mũi thẳng, da
trắng, tóc nhiều và dài, ông thường búi cao trên đỉnh đầu. [2] Lúc về già râu
ông bạc trắng và dài; phong thái uy nghiêm nhưng điềm đạm,
ôn hòa. Trong cách xử thế, ông được người đời kính trọng bởi cốt cách ngay
thẳng, trọng đạo lý, trọng chữ tín, sống khiêm nhường, giàu lòng nhân nghĩa, biết
bênh vực điều phải và luôn giữ trọn các phẩm chất nhân - nghĩa - lễ - trí - tín.
Ông kết duyên cùng bà Nguyễn Thị Thìn,
con của ông Nguyễn Văn Hóa và bà Thị Nhứt, cùng quê quán. Hai ông bà sinh được
tám người con, trong đó ba người mất lúc nhỏ, còn lại năm người gồm bốn trai và
một gái: ông Nguyễn Văn Tuấn, ông Nguyễn Văn Kiệt, ông Nguyễn Văn Từ, bà Nguyễn
Thị Chín và ông Nguyễn Văn Bền. Ngoài ra, ông bà còn có một người con nuôi là
bà Nguyễn Thị Niệm.
[3] Gia đình ông nổi
tiếng nề nếp, gia giáo; con cháu được dạy dỗ chu đáo, giữ lễ nghĩa, hòa thuận
và sống mẫu mực với xóm giềng.
Thời đại ông Nguyễn Văn Thới là lúc sáu tỉnh Nam Kỳ bị thực dân Pháp xâm
lược, áp bức, bóc lột, thực hiện chính sách ngu dân đối với dân tộc ta. Vì vậy
có nhiều phong trào đấu tranh chống quân Pháp xâm lược nổ ra ở khắp Nam Kỳ, như
của Trương Công Định ở Gò Công, của Võ Duy Dương ở Đồng Tháp Mười, của Nguyễn
Trung Trực ở Rạch Giá, của Nguyễn Hữu Huân ở Mỹ Tho… Đặc biệt là cuộc khởi
nghĩa Bảy Thưa của Quản cơ Trần Văn Thành ở An Giang. Chính vì hoàn cảnh nước mất,
nhà tan và các cuộc khởi nghĩa đấu tranh chống quân Pháp xâm lược đã tác động đến
tư tưởng, tình cảm yêu nước và ý chí phản kháng chống ngoại xâm của ông Ba.
2. Quy y, tu học và
gắn bó với đạo Bửu Sơn Kỳ Hương
Mùa xuân năm Bính Ngọ (1906), ông Ba được khoảng 40 tuổi, điều kiện kinh
tế gia đình ổn định. Ông nghe người đời ca ngợi đạo hạnh cao siêu và tinh thần
yêu nước của ông Trần Văn Nhu (1847 - 1914), thường gọi là ông Hai Nhu hoặc ông
Hai, là con trưởng nam của Đức Quản cơ Trần Văn Thành - thủ lĩnh cuộc khởi
nghĩa Bảy Thưa chống Pháp xâm lược. Ông Hai đang xiển dương đạo Bửu Sơn Kỳ
Hương là tôn giáo nội sinh do Đức Phật Thầy Tây An Đoàn Minh Huyên (1807 -
1856) sáng lập hồi năm 1849 và ngầm chiêu mộ nghĩa sĩ để kích hoạt cuộc kháng
chiến chống Pháp.
Sau nhiều ngày dò hỏi tin tức, ông Ba đi lên núi Sam, vô Nhà Bàng đến viếng
trại ruộng Đức Phật Thầy Tây An ở Thới Sơn, rồi tìm đường xuống Láng Linh (Thạnh
Mỹ Tây) đến Bửu Hương tự gặp ông
Hai. Hai người gặp nhau trò chuyện, ông Ba rất ngưỡng mộ tài năng, đức độ ông
Hai; nhận thấy đáng bậc thầy mình và thật lòng xin gia nhập đạo làm môn đệ. Ông
Hai rất cảm động và vui lòng chấp thuận.
Sau một năm ở tu học, ông Ba xin phép ông
Hai trở về quê lo việc gia đình. Đầu năm Đinh Mùi (1907), ông đưa cả gia quyến
về định cư tại Láng Linh, cất nhà tại mương Bờ Dâu, gần Bửu Hương tự. Tại đây,
ông vừa chuyên tâm tu dưỡng đạo hạnh, vừa khai hoang mở đất, lao động sản xuất,
chăm lo đời sống gia đình và góp phần hỗ trợ chùa cả về vật chất lẫn tinh thần.
Nhờ đức độ và sự tận tâm, ông được ông Hai đặc biệt tín nhiệm, xem như một đại
đệ tử.
Một hôm, ông Ba bảo người nhà dọn dẹp cho ông một căn phòng sạch sẽ, có
kê bàn đọc sách, giấy bút mực, rồi ông ở luôn trong đó. Ngót ba năm ông không
đi đâu, ban đêm ông ra ngoài tắm rửa hay đại tiểu tiện. Trong thời gian này,
ông đã sáng tác thi thơ chữ Nôm được một quyển là Vân tiên, có bố cục ba phần gồm Vân tiên, Thiện từ và Cổ vãng kim lai. [4]
Theo truyền thuật trong gia đình và
đồng đạo, sau ba năm chuyên tâm sáng tác, vào dịp Tết Nguyên đán, ông mang một
khay lễ vật gồm ba trái ớt hiểm và ba cây roi đến trước ông Hai để xin chịu
phạt, tự nhận rằng trong thời gian ấy chưa làm tròn bổn phận hiếu nghĩa đối với
thầy. Ông Hai vui vẻ miễn trách.
3. Biến cố năm 1913
và hành trình sáng tác Kim cổ kỳ quan
Ngày 22 tháng 2 Âm lịch năm Quý Sửu (1913), ông Hai cùng nhân dân đang
làm lễ giỗ tưởng niệm 40 năm ngày Đức Quản cơ Trần Văn Thành và lực lượng binh
Gia Nghị đã hy sinh trong kháng chiến chống quân Pháp xâm lược, đồng thời diễn
tập phục hoạt kháng chiến chống Pháp.
Quân
Pháp biết tin, [5] từ Châu Đốc kéo vào bao vây, đàn áp nhân dân, bắt người và đốt
Bửu Hương tự. Ông Hai được một số người bảo vệ chạy thoát khỏi vòng vây. Quân
Pháp bắt 83 người đem về Châu Đốc điều tra. Do không có cơ sở buộc tội, Pháp phải
thả 27 người, kêu án 36 người ở tù 13 tháng, còn lại 20 người chống án [6]
bị Pháp bắt tù đày ra Côn Đảo. Đây là biến cố lớn
đối với cộng đồng tín đồ và những người yêu nước vùng Láng Linh.
Ông
Ba sau 3 ngày lánh nạn, thoát khỏi trận bố ráp của quân Pháp, trở về nhà trong
tâm trạng vô cùng đau xót, phẫn uất vì thời thế quân Pháp đàn áp dân ta, tình đời
đen bạc do trong nội bộ có người tạo phản và cảnh sư đệ rã rời, phụ tử chia ly.
Ngày 24 tháng 2 (Âm lịch), trong cơn tuyệt vọng, ông lẳng lặng dùng dao cắt cổ để
quyên sinh. Vết thương đứt nơi cuống họng, nhưng ông không chết. Người
nhà phát hiện, đưa ông vào bệnh viện Châu Đốc cấp cứu. Do lòng căm thù thực dân
Pháp sâu sắc, ông cương quyết không để bác sĩ người Pháp điều trị và từ chối
dùng thuốc. Mất nhiều máu, ông rơi vào trạng thái hôn mê sâu, các bác sĩ tưởng
ông đã qua đời nên chuyển ra nhà xác. Đến nửa đêm, ông tỉnh lại và được người
nhà bí mật đưa về Láng Linh. Cơn
phẫn uất nguôi dần, ông bình tâm suy xét, nhận ra mình cần
tiếp tục sống để chờ thời cơ, nên từ bỏ ý định quyên sinh và để gia đình chăm
sóc, chữa trị.
Đầu năm Giáp Dần (1914), sức
khỏe dần hồi phục. Nhận thấy Bửu Hương tự đã bị thiêu hủy, gia đình lại thường
xuyên bị mật thám theo dõi, ông quyết định đưa gia quyến về định cư tại doi Lộ
Lở, làng Kiến An, tổng Định Hòa, quận Chợ Mới, tỉnh Long Xuyên [7] (nay
là ấp Hòa Bình, xã Chợ Mới, tỉnh An Giang). Thời gian này, người ta có thấy ông Ba đến nhà thờ Cù Lao
Giêng ba lần để nhờ các vị Linh mục can thiệp với nhà cầm quyền Pháp cho ông
Hai và anh em đồng đạo đã bị kẻ gian vu cáo. Nhưng nhà cầm quyền Pháp ở Châu Đốc
làm lơ.
Tại
nơi ở mới, ông Ba tiếp tục sáng tác thêm 8 quyển thi thơ chữ Nôm, như vậy trước
và sau ông sáng tác hoàn thành bộ thi thơ chữ Nôm đồ sộ gồm
chín quyển: Vân tiên, Kim cổ, Giác mê, Cáo thị, Ngồi buồn, Bổn tuồng, Thừa
nhàn, Tiền giang, Kiểng tiên. Hiện còn lưu giữ được khoảng 23.729 câu thơ,
chưa kể phần thất lạc hoặc bị hỏa hoạn thiêu hủy.
Nội dung các tác phẩm xoay quanh việc
đề cao những giá trị đạo đức truyền thống, tinh thần chân - thiện - mỹ, giáo lý
Tứ ân (ân tổ tiên cha mẹ, ân đất nước, ân Tam bảo và ân đồng bào nhân loại).
Đồng thời, thơ văn của ông phản ánh sâu sắc nỗi đau mất nước, lên án ách áp bức
thuộc địa và gửi gắm khát vọng phục hưng dân tộc. Bộ thi phẩm này được nhiều
nhà nghiên cứu đánh giá là một di sản đặc sắc trong kho tàng văn học chữ Nôm
Nam Bộ đầu thế kỷ XX.
4. Qua đời và di sản
để lại
Ông Nguyễn Văn Thới qua đời lúc 5 giờ
sáng (giờ Dần), mùng 9 tháng 4 Âm lịch năm Bính Dần (1926), hưởng thọ 60 tuổi. Ông
về cõi vĩnh hằng với một phong thái thanh thản, tự nhiên, không lâm trọng bệnh.
Con cháu lập mộ ông ven bờ sông Vàm Nao ở doi Lộ Lở, làng Kiến An. Về sau, người
dân xây cất phủ thờ ông tại đây.
Ông Ba có 20 năm gắn bó với đạo Bửu Sơn
Kỳ Hương (1906 - 1926). Ông một dạ thủy chung đối với ông Hai Trần Văn Nhu, với
Đức cố Quản Trần Văn Thành và tôn giáo Bửu Sơn Kỳ Hương của Đức Phật Thầy Tây
An. Từ ngày ông quyên sinh bất thành năm 1913 cho đến ngày qua đời là 13 năm,
ông vẫn mang vết thương thể xác hành hạ [8] cùng nỗi đau tinh thần vì vận nước và
nghĩa tình với thầy tổ. Ông đã thể hiện rõ tinh thần yêu nước, ý thức dân tộc
và thái độ bất bình trước cảnh nước mất, dân khổ với ách thực dân.
Năm 1938, [9]
bà Ba theo lời dặn dò của ông Ba lúc sinh tiền đã di chuyển
gia đình về Láng Linh (Thạnh Mỹ Tây) [10] dựng nhà cột tre, vách phên, lợp lá;
lo việc khai hoang mở đất, cuộc sống mưu sinh và tu hành, phụng thờ ông Ba. Nhiều
người tín ngưỡng xem nơi đây là Phủ thờ ông Nguyễn Văn Thới. Sau đó bà Ba mất,
người con tên Nguyễn Văn Từ tiếp tục thờ phụng. Đến năm 1954 ông Từ mất, người
con ông Từ là ông Nguyễn Văn Tường lo việc hương khói. Tháng 7 năm 1968, ông
Tường dựng lại phủ thờ bằng khung gỗ lợp ngói.
Ngày 28 tháng 4 năm Tân Dậu (1981), ngôi mộ ông Ba ở ven bờ sông Vàm
Nao có nguy cơ bị sạt lở, nên hậu duệ đã bốc mộ, thỉnh hài cốt ông về thượng án
cùng hài cốt của bà Ba tại phủ thờ hiện nay ở ấp Cầu Dây, xã Thạnh Mỹ Tây, tỉnh
An Giang. Năm 2004, ông Tường cùng một số anh em, con cháu chung tay xây dựng
lại Phủ thờ ông Ba bằng bê tông. Năm 2012, ông Tường mất, người con ông Tường
là Nguyễn Hữu Lễ lo việc hương khói.
Tại đây hiện còn lưu giữ nguyên vẹn
những hiện vật do chính ông Ba lao động bằng chân tay, khối óc, con tim tạo ra
như: 9 quyển thi thơ Kim cổ kỳ quan, tự tay ông đan một tấm thành vọng (mặt khại)
[11] bằng tre, có 3 hàng chữ Nôm:
- Hàng trên: Tinh minh - Quốc - Cổ tập
- Chính giữa: Thần vọng sư
- Hàng dưới: Phước - Tiền - Phước
Ông còn chạm khắc tinh xảo một tủ thờ,
một bàn dài, tám ghế tựa lưng, một bàn tròn, một bàn chữ nhật, hai ghế đôn, một
chiếc giường và một lồng cây cảnh chim thú. Ngoài ra còn có nhiều đồ vật, dụng
cụ cổ xưa. Đây là nguồn tư liệu quý giá phản ánh tài năng thủ công, tâm hồn thi
sĩ và đời sống tinh thần của ông.
Hiện nay, trong phủ thờ còn duy trì hệ
thống thờ tự truyền thống. Từ cửa chính vào là bàn thờ Tam Bảo; kế đến là bàn
thờ tứ cấp, trên hết là Phật Thầy Tây An, ông Quản cơ Trần Văn Thành, ông Hai Trần
Văn Nhu và ông Ba Nguyễn Văn Thới; tiếp đến là bàn thờ Cửu Huyền; bàn thờ Trăm
Quan; bàn thờ Ngọc cốt ông bà Nguyễn Văn Thới; bên phải là bàn thờ ông bà
Nguyễn Văn Tường (cháu nội ông Ba).
5. Sự ghi nhận của
hậu thế
Sinh thời, ông Nguyễn Văn Thới là người
nông dân cần cù, người thợ thủ công tài hoa, tu sĩ tại gia mẫu mực, đồng thời
là chí sĩ yêu nước và nhà thơ Nôm tiêu biểu của Nam Bộ. Cuộc đời và thơ văn của
ông thể hiện rõ tinh thần yêu nước, lòng trung hiếu, thủy chung với đạo nghĩa,
thầy tổ và dân tộc.
Ông để lại di sản văn học đồ sộ cùng
tấm gương đạo đức sáng ngời cho hậu thế noi theo. Nhân dân vùng Tứ giác Long
Xuyên từ lâu tôn kính gọi ông là Đức Ông Ba, xem ông như một bậc tiền nhân khả
kính. Năm 2019, tại Hội thảo khoa học “Sự kiện lịch sử và nhân vật lịch sử Chợ
Mới 320 năm” do Hội Khoa học Lịch sử tỉnh An Giang tổ chức, các nhà nghiên cứu
tiếp tục ghi nhận và khẳng định những đóng góp của ông Nguyễn Văn Thới đối với
lịch sử, văn hóa và phong trào yêu nước vùng An Giang.
Hiện nay, ông được phụng thờ tại hai
nơi: Phủ thờ ông Nguyễn Văn Thới tại ấp Cầu Dây, xã Thạnh Mỹ Tây, tỉnh An Giang
và Phủ thờ ông Nguyễn Văn Thới tại ấp Hòa Bình, xã Chợ Mới, tỉnh An Giang. Hằng
năm, vào mùng 9 tháng 4 âm lịch, lễ giỗ ông được tổ chức trang trọng, thu hút
đông đảo hậu duệ, đồng đạo và nhân dân nhiều nơi đến tưởng niệm.
Cuộc đời và sự nghiệp của ông Nguyễn
Văn Thới là minh chứng sinh động cho tinh thần bất khuất, lòng trung nghĩa, đức
độ và tài năng của con người Nam Bộ trong giai đoạn lịch sử đầy biến động của
dân tộc. Ông Nguyễn Văn Thới là chí sĩ
yêu nước, nhà thơ Nôm của Nam Bộ, đồng thời là môn đệ xuất sắc của ông Trần Văn
Nhu - một nhân vật tiêu biểu của đạo Bửu Sơn Kỳ Hương. Cuộc đời và di sản của
ông góp phần làm phong phú thêm lịch sử, văn hóa, tín ngưỡng và truyền thống
yêu nước của vùng đất An Giang - Nam Bộ đầu thế kỷ XX.
ĐOÀN
VĂN HIỂN
_______________________
CHÚ THÍCH:
1. Theo sách Thất Sơn mầu nhiệm của Dật Sĩ và Nguyễn
Văn Hầu thì ông Nguyễn Văn Chơi là anh của ông Ba. Tuy nhiên, theo ông Nguyễn
Phước Long (Bảy Cương, 90 tuổi - 2026) là cháu ngoại của ông Nguyễn Văn Chơi,
đang sinh sống liền kề Phủ thờ ông Nguyễn Văn Thới ở ấp Cầu Dây, xã Thạnh Mỹ
Tây, tỉnh An Giang cung cấp thông tin ông Nguyễn Văn Chơi là người em của ông
Ba.
2. Lưu ý, hiện nay có xuất hiện hình ảnh
ông Nguyễn Văn Thới trên các trang mạng, nhưng con cháu ông Ba không công nhận
vì ông Ba không có di ảnh.
3. Do ba người con thứ tư, thứ năm,
thứ sáu mất lúc nhỏ, nên ông Ba xin con nuôi đỡ đầu là bà Nguyễn Thị Niệm.
4. Tài liệu trước đây ghi ba quyển Vân
tiên, Thiện từ và Cổ vãng kim lai. Nhưng nghiên cứu mới cho
thấy chỉ có một quyển Vân tiên.
5. Do ông Phạm Văn Phẩm là cháu gọi
ông Hai bằng cậu, báo tin cho quân Pháp.
6. Biết được 7 người: Nguyễn Văn Tuấn,
Nguyễn Văn Nhậm, Nguyễn Văn Giàu, Lê Văn Vọng, Lương Văn Sung Lương Văn Túc và
ông Thủ Bổn (không rõ tên). Trong đó, Nguyễn Văn Tuấn là con trưởng nam của ông
Nguyễn Văn Thới, khi mãn hạn tù về nhà kể lại sự kiện của ông Nguyễn Văn Nhậm bị
tra tấn dã man và chết tại nhà tù Côn Đảo. Ông Nhậm là ông nội của ông Nguyễn
Văn Nhẫn (Sáu Ngữ) đang cư ngụ tại ấp Long Châu, xã Thạnh Mỹ Tây, tỉnh An Giang.
Hai ông Lương Văn Sung và Lương Văn Túc là cháu gọi ông Hai bằng cậu.
7. Ông Ba ở trên phần đất khoảng ba mẫu
của bà Phan Thị Lới hiến tặng.
8. Vết thương nơi cổ chưa lành, nó gom
lại bằng nút chìa vôi.
9. Người dân ở xã Kiến An dựng lên
ngôi thờ ông Ba.
10. Thời điểm này đang thi công kênh
Tri Tôn (Vịnh Tre) đến vị trí tại Phủ thờ ông Ba hiện nay.
11. Dựng ngay trước bàn thờ để biểu lộ
tấm lòng ưu ái giang sơn, thầy tổ.
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1. Dật Sĩ &
Nguyễn Văn Hầu (1972), Thất Sơn mầu nhiệm,
NXB Từ Tâm.
2. Nông Huyền
Sơn (2016), “Chí sĩ Ba Thới - Một tấm gương kháng Pháp trung liệt”, Báo điện tử Công an nhân dân, 23/6/2016.
3. Vĩnh Thông
(2019), “Nguyễn Văn Thới và tác phẩm Kim
cổ kỳ quan”, Tạp chí Nghiên cứu Tôn
giáo, số 4.
4. “Tóm tắt
tiểu sử ông Nguyễn Văn Thới”, Tài liệu của tộc họ ông Nguyễn Văn Thới ghi lại.
5. Tư liệu khảo sát thực tế của tác giả bài viết.
Comments[ 0 ]
Đăng nhận xét