1. Dẫn nhập
Ngày nay, bình đẳng là lý tưởng chung mà các quốc gia trên thế giới đều hướng đến. Tuy nhiên không phải đến nay, mà từ xa xưa những con người có địa vị thấp kém trong xã hội đều mong mỏi được đối xử bình đẳng, được tôn trọng, được quyền làm người… Để đạt được khát vọng đó, con người đã trải qua lịch sử hàng ngàn năm đấu tranh với những quan niệm hà khắc của giới cầm quyền. Dẫu vậy hiện nay, bình đẳng chưa thật sự có mặt, hoặc chưa thể hiện trọn vẹn ở một số nơi trên thế giới. Bình đẳng vẫn còn là niềm trăn trở của loài người.
Vậy mà cách đây
trên hai ngàn năm, Phật giáo đã chủ trương xóa bỏ bất bình đẳng. Đức Phật cho
rằng, hành vi đạo đức mới quyết định sự cao quý hay thấp hèn của một người,
không phải ở đẳng cấp, dòng dõi, chủng tộc… Quan niệm đó gây nên sự chấn động
mạnh mẽ trong xã hội đương thời, đặc biệt là nền văn hóa phân biệt đẳng cấp
nặng nề như Ấn Độ. Bởi thế, Đức Phật có thể được xem như một trong những người
tiên phong trong công cuộc cải cách xã hội thời cổ đại, đồng thời để lại những
di sản tư tưởng có tầm ảnh hưởng đến nay.
Đề tài quan
điểm về bình đẳng trong Phật giáo được nhiều học giả trong và ngoài nước quan
tâm nghiên cứu. Từ thế kỷ XX, các học giả phương Tây như Rhys Davids (1914),
Walpola Rahula (1959) đã giới thiệu về tư tưởng nhân bản và bình đẳng qua các
công trình nghiên cứu về triết học Phật giáo. Các học giả đương đại như Perera
(1990), Damien Keown (1992), Peter Harvey (2000) tiếp tục triển khai chủ đề nầy
trên nền tảng triết học và đạo đức học, xem quan điểm bình đẳng là cơ sở cho lý
tưởng từ bi và bất bạo động.
Tại Việt Nam,
nhiều học giả đã ít nhiều đề cập đến quan điểm bình đẳng khi nghiên cứu về
triết học Phật giáo qua kinh điển Pāli như Thích Minh Châu (1981), Thích Thiện
Siêu (1992), từ đó nhấn mạnh bình đẳng là hệ quả của vô ngã và duyên khởi. Một
số nghiên cứu học thuật gần đây như Thích Nhật Từ (2008, 2013), Nguyễn Thị Thu
Hương (2016), Trần Thị Thu Hà (2018) tiếp cận vấn đề ở bình diện xã hội, diễn
giải bình đẳng dưới góc độ nhân quyền hiện đại.
Tổng quan cho
thấy, tư tưởng bình đẳng Phật giáo đã được khẳng định như một giá trị nhân văn,
tiến bộ. Song, dõi theo các kinh điển, chúng ta nhận thấy quá trình kêu gọi
bình đẳng của Phật giáo không dễ dàng. Đức Phật và Tăng đoàn đã vấp phải sự
phản ứng với nhiều hình thức khác nhau từ những tầng lớp ở Ấn Độ khi đó. Nhiều
cuộc tranh luận về đẳng cấp đã diễn ra giữa Đức Thế Tôn với những người ngoại
đạo. Bằng các dẫn chứng sâu sắc, Ngài đã chỉ ra sự vô lý của chế độ bất bình
đẳng, kỳ thị đẳng cấp, phân biệt giới tính… Vậy, những luận điểm nào được Phật
giáo nêu lên và chúng được chứng minh ra sao?
Nghiên cứu nầy
nhằm làm rõ các luận điểm nền tảng của tư tưởng bình đẳng trong Phật giáo
Nguyên thủy, dựa trên phương pháp khảo sát và phân tích kinh điển Pāli. Kinh
tạng Pāli [1] được hiểu là kinh điển Phật giáo viết bằng tiếng Pāli,
do bộ phái Theravāda (Thượng tọa bộ) truyền bá, gồm năm bộ là Trường bộ, Trung
bộ, Tương ưng bộ, Tăng chi bộ và Tiểu bộ. Trong đó, tác giả rà soát một số đoạn
kinh tiêu biêu có đề cập đến quan điểm của Đức Phật về bình đẳng. Chúng tôi sử
dụng bản dịch tiếng Việt của Hòa thượng Thích Minh Châu, là bản dịch có độ tin
cậy học thuật cao ở Việt Nam, được Giáo hội Phật giáo Việt Nam sử dụng chính
thức.
Qua nghiên cứu
cho thấy, bình đẳng trong Phật giáo không dừng lại ở lời kêu gọi. Trái lại, Đức
Phật sử dụng nhiều lập luận ở nhiều chiều hướng khác nhau, nhằm chứng minh cho
người nghe nhận ra giá trị của bình đẳng. Song song đó, chúng ta cũng nhận thấy
những quan điểm của Phật giáo về nguồn gốc con người, tiến trình biến đổi của
xã hội, cách đánh giá nhân phẩm… khác biệt so với các tôn giáo Ấn Độ đương
thời.
2. Cơ sở lý luận và thực tiễn
2.1.
Giới thuyết khái niệm “bình đẳng”
Khái niệm “bình
đẳng” trong xã hội hiện đại có nguồn gốc từ thuật ngữ Pháp là “egalitaire”,
trong đó “egal” có nghĩa là ngang bằng nhau, từ đây thuật ngữ “egalitarianism”
có nghĩa là chủ nghĩa bình đẳng. [2] Trong khi đó ở Phật giáo, thuật
ngữ “samānaata” trong tiếng Pāli có nghĩa là bình đẳng (samāna) với tôi (atan),
tức giống như tôi. [3] Có thể giải thích một cách khái quát, bình đẳng là sự
tôn trọng vị thế và những khác biệt của mỗi cá nhân trong xã hội, họ có quyền
và nghĩa vụ ngang bằng nhau, được pháp luật bảo vệ giống nhau, không có sự phân
biệt đối xử.
Ngày nay, bình
đẳng được thế giới công nhận là một trong những quyền cơ bản của con người. Tuy
nhiên, nhu cầu bình đẳng đã xuất hiện từ rất sớm trong đời sống nhân loại và
đồng hành với tiến trình phát triển của xã hội qua nhiều thời đại khác nhau.
Mãi đến thời kỳ cách mạng công nghiệp và cách mạng tư sản ở phương Tây, chủ
nghĩa bình đẳng theo quan điểm hiện đại mới hình thành. Năm 1948, quyền bình
đẳng của con người chính thức được đề cập trong Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền của Liên Hiệp Quốc.
Ở Việt Nam,
khái niệm bình đẳng được Từ điển bách
khoa Việt Nam định nghĩa là: “Sự được đối xử như nhau về các mặt chính trị,
kinh tế, văn hóa… không phân biệt thành phần và địa vị xã hội, trong đó trước
tiên và cơ bản nhất là bình đẳng trước pháp luật.” [4]
Tuy nhiên, sở
dĩ con người có nhu cầu bình đẳng vì trong quá trình phát triển, xã hội loài
người đã nảy sinh hiện tượng bất bình đẳng. Khái niệm bất bình đẳng xã hội được
hiểu là: “Sự không ngang bằng nhau về cơ hội xã hội giữa các cá nhân, các nhóm
trong xã hội; sự không ngang bằng nhau về cơ hội xã hội có liên quan chặt chẽ
đến sự không ngang bằng nhau về của cải, uy tín, quyền lực giữa các cá nhân,
các nhóm.” [5]
Sự bất bình
đẳng bắt nguồn từ những nhóm người có nhiều quyền lực đã phân biệt đối xử với
các nhóm người còn lại, dựa trên những khác biệt về màu da, chủng tộc, tôn
giáo, địa vị… Bất bình đẳng xảy ra ở hầu hết mọi nền văn hóa trên thế giới từ
xưa đến nay, với nhiều hình thức khác nhau. Do vậy có thể nói, công cuộc đấu
tranh cho quyền bình đẳng đã song hành với lịch sử phát triển của loài người.
Nhìn chung, bình
đẳng được đồng thuận là ngang bằng giữa người nầy với người khác. Tuy vậy, tùy
theo những hoàn cảnh lịch sử khác nhau, trọng tâm của bình đẳng được nhìn nhận
khác nhau. Chẳng hạn ở xã hội hiện đại, bình đẳng chủ yếu được xoay quanh mối
quan hệ giàu và nghèo, cai trị và bị trị, đa số và thiểu số… Trong khi đó ở Ấn
Độ cổ đại, bình đẳng chủ yếu xoay quanh vấn đề đẳng cấp theo sự phân chia của
văn hóa tôn giáo.
2.2.
Bối cảnh xã hội Ấn Độ thời Đức Phật
Ấn Độ là một
trong những nền văn minh cổ đại và phát triển rực rỡ trong lịch sử nhân loại
với nhiều thành tựu to lớn. Tuy vậy ở phương diện cơ cấu xã hội, Ấn Độ từ xa
xưa đến ngày nay hầu như luôn ở trong tình trạng phân tầng sâu sắc, xuất phát
từ quan niệm của đạo Bà-la-môn. Điều đó chẳng những gây ra những bất công trong
đời sống của mỗi người dân, mà còn ảnh hưởng đến quá trình phát triển của đất
nước nầy.
Trong văn hóa
Ấn Độ, con người được chia thành bốn đẳng cấp với thứ tự từ cao xuống thấp là
giáo sĩ, quý tộc, bình dân, nô lệ. Theo kinh điển Veda của đạo Bà-la-môn, bốn
đẳng cấp được sanh ra bởi Phạm Thiên (Brahmā) là đấng tối cao trong tôn giáo
nầy, mỗi đẳng cấp có những bổn phận cụ thể khác nhau:
- Brāhmaṇa
(Bà-la-môn / giáo sĩ) được sanh từ miệng Phạm Thiên, đây là những nhà tu hành
của đạo Bà-la-môn, có nhiệm vụ học tập và truyền bá kinh điển Veda, thực hiện
các nghi lễ tôn giáo.
- Khattiya
(Sát-đế-lợi / quý tộc) được sanh từ ngực Phạm Thiên, bao gồm giới vua chúa,
tướng lĩnh, quan lại, quý tộc… là những thành phần có nhiệm vụ quản trị đất
nước và dân chúng.
- Vessa (Phệ-xá
/ bình dân) được sanh từ bắp đùi Phạm Thiên, họ là những người lao động trong
xã hội nói chung, bao gồm các nghề nghiệp khác nhau như buôn bán, trồng trọt,
chăn nuôi…
- Sudda (Thủ-đà
/ nô lệ) được sanh từ gót chân Phạm Thiên, là tầng lớp thấp kém trong xã hội,
có bổn phận phục vụ cho ba đẳng cấp trên, không có cơ hội thụ hưởng những quyền
lợi cơ bản của con người.
Ngoài ra, những
người thấp kém tột cùng trong xã hội không được xếp
vào bốn đẳng cấp nói trên, bị gọi là ngoại cấp. Chế độ đẳng cấp được rao
giảng rằng do Phạm Thiên xây dựng, vì vậy ai sanh ra trong gia đình mang đẳng
cấp nào thì vĩnh viễn thuộc đẳng cấp ấy, không thể thay đổi bằng bất cứ phương
thức nào. Do đó, việc tuân thủ chế độ đẳng cấp là trách nhiệm cao quý của con
người. Với cách lý giải nầy, những người Bà-la-môn đã nhân danh thần linh để áp
đặt quy tắc cai trị lên đời sống của toàn thể người dân Ấn Độ.
Về lịch sử, chế
độ đẳng cấp được cho là bắt nguồn từ người Arya ở phía Tây Bắc đến xâm lược bán
đảo Ấn Độ và thiết lập sự cai trị lên người bản xứ Dravidia. [6] Thuật ngữ
“vaṇṇā” dùng để chỉ đẳng cấp, có nghĩa gốc là màu da, đây là một đặc điểm để
phân biệt chủng tộc ở Ấn Độ, bởi người Arya có màu da trắng hơn, trong khi đó
người Dravidia có màu da sậm hơn.
Qua đây có thể
nói, để củng cố quyền lực, người Arya đề ra vai trò sáng tạo của Phạm Thiên, từ
đó khiến quần chúng chấp nhận chế độ đẳng cấp như định mệnh. Tuy vậy trong xã
hội đương thời, các đẳng cấp còn lại đã phần nào thể hiện sự phản kháng chế độ nầy
thông qua các trường phái triết học đối lập với đạo Bà-la-môn, thường gọi là
các trường phái triết học phi chính thống, trong đó Phật giáo là một trường
phái nổi bật.
3. Các luận điểm về bình đẳng của Đức Phật
Trước hết về
quan điểm chung, Đức Phật thừa nhận các chúng sanh, trong đó có con người, có
sự khác biệt do di truyền, môi trường sống và quan trọng là nghiệp. Song, bản
chất không sai khác, các cá thể đều cấu thành từ nhiều yếu tố thuộc vật lý (sắc
pháp) và tâm lý (danh pháp). Do đó theo Đức
Thế Tôn, bất bình đẳng trong xã hội là nhận thức và ứng xử sai lầm của con
người. Để làm rõ điều đó, Ngài chứng minh qua một số luận điểm quan trọng.
L. P. N. Perera
đưa ra hai luận điểm lớn là luận điểm sinh học và luận điểm nhân học. [7] Trong
luận điểm nhân học, tác giả triển khai thêm bốn luận điểm nhỏ là xã hội học,
pháp lý, đạo đức, tâm linh / tôn giáo. [8] Ở nghiên cứu nầy, chúng tôi kế thừa
nền tảng đó, song triển khai hướng tiếp cận có phần khác biệt hơn, đó là đưa ra
ba nhóm luận điểm gồm nguồn gốc tự nhiên,
quan hệ xã hội, đời sống tôn giáo. Phân loại nầy dựa trên tiêu chí phạm vi và bình
diện biểu hiện của bình đẳng trong đời sống thực tiễn, kết hợp đối chiếu với
góc nhìn được thể hiện qua kinh điển Phật giáo. Những luận điểm về nguồn gốc tự
nhiên được xem xét trên nền tảng sinh học của loài người, tức các đặc tính phổ
quát gắn với sự hình thành và phát triển của con người. Những luận điểm về quan
hệ xã hội tập trung vào những biểu hiện của bình đẳng trong đời sống cộng đồng,
bao gồm các quan hệ, chuẩn mực, quan hệ và quy tắc điều chỉnh ứng xử. Những
luận điểm về đời sống là những góc nhìn cụ thể của Phật giáo đối với mỗi cá
nhân khi tham gia vào quá trình tu tập và chuyển hóa bản thân.
3.1.
Bình đẳng trong nguồn gốc tự nhiên
Theo quan điểm
khoa học hiện đại, con người được xác định là một loài, dù có những khác biệt
tùy theo các khu vực cư trú. Bởi, khái niệm “loài” được sinh vật học định nghĩa
là: “Tất cả các thành viên trong một quần thể sinh vật có khả năng giao phối
với nhau và sinh sản ra thế hệ mới.” [9] Đó là cơ sở quan trọng để khẳng định
không có sự khác biệt về bản chất giữa người nầy với người khác.
Song, không
phải đến thời hiện đại, quan điểm đó mới xuất hiện. Cách đây trên hai ngàn năm,
Đức Phật đã nhận định tương tự như thế. Ngài cho rằng không có sự khác biệt về
bản chất giữa những con người với nhau, chỉ có sự khác biệt về ngoại hình, ngôn
ngữ, nghề nghiệp, đạo đức, trí tuệ… Trong Kinh
Vāseṭṭha (Kinh Trung bộ), Đức Thế
Tôn cho rằng giữa các loài có sự khác biệt với nhau, nhưng không tìm thấy dấu
vết của sự khác biệt trong loài người. [10] Một cứ liệu khác trong Kinh Assalāyana (Kinh Trung bộ), Đức Phật đã trao đổi với chàng thanh niên
Assalayana là người tinh thông kinh điển Veda, Ngài rất sâu sắc khi lấy sự khác
nhau giữa các loài để chứng minh loài người không khác biệt:
“- Này Assalayana, ông nghĩ thế nào? Ở đây, một nam tử Bà-la-môn cưới
một nữ nhân Khattiya và do hôn phối này, họ sanh được đứa con trai. Người con
trai ấy được sanh từ nam tử Bà-la-môn và nữ nhân Khattiya, nó giống mẹ nó hay
giống cha nó, nó được gọi là Khattiya (hay) cũng được gọi là Bà-la-môn?
- Thưa Tôn giả Gotama, người con trai sanh ra từ nam tử Bà-la-môn và nữ
nhân Khattiya, nó vừa giống mẹ nó vừa giống cha nó, và nó được gọi là Khattiya
và cũng được gọi là Bà-la-môn.
- Này Assalayana, ông nghĩ thế nào? Ở đây, có con ngựa cái giao phối với
con lừa. Do sự giao phối này, chúng sanh được con la. Con la ấy sanh ra từ con
ngựa cái và con lừa, nó giống mẹ nó hay giống cha nó, nó được gọi là ngựa hay
nó được gọi là lừa?
- Tôn giả Gotama, do sự giao phối khác giống như vậy, nó là con la. Ðó
là sự sai khác, thưa Tôn giả Gotama, mà tôi thấy ở đây.” [11]
Từ quan điểm
nền tảng là con người không khác biệt với nhau, Đức Phật phản đối lập luận của
những người Bà-la-môn khi họ cho rằng dòng dõi mình được sanh từ miệng Phạm
Thiên. Ngài đánh giá họ đã quên đi nguồn gốc của mình, bởi: “Các nữ Bà-la-môn,
vợ của các Bà-la-môn được thấy là có kinh nguyệt, có mang thai, có sanh con, có
cho con bú. Và những Bà-la-môn ấy chính do thai sanh…” [12] Tương tự
như thế, ba đẳng cấp Sát-đế-lợi, Phệ-xá, Thủ-đà không sanh từ ngực, bắp đùi,
gót chân của Phạm Thiên. Tiếp tục với những bằng chứng sinh học thuyết phục,
Đức Thế Tôn đã lý giải vừa sâu sắc nhưng cũng đầy thực tiễn về sự giống nhau
trong nguồn gốc sanh thành của con người.
Như vậy theo
quan điểm của Đức Phật, tất cả con người dù đẳng cấp nào đều sanh ra từ mẹ,
không phải từ các bộ phận trên cơ thể Phạm Thiên như quan niệm của Bà-la-môn
giáo đương thời. Trong quá trình phát triển, họ mang những đặc điểm sinh học của
một loài. Ngài không sử dụng những lập luận siêu hình, mà trái lại rất thực
tiễn và biện chứng, đặc biệt là phù hợp với những quan điểm hiện đại về sinh
học.
3.2.
Bình đẳng trong quan hệ xã hội
Nói về tiến
trình hình thành và phát triển của xã hội loài người trong Kinh Khởi thế nhân bổn (Kinh
Trường bộ), Đức Phật cho rằng vào buổi bình minh của nhân loại, con người
về cơ bản là tương tự nhau. Song về sau, do sự phát triển của đời sống, thay
đổi về mô hình kinh tế, phân công lao động… và đặc biệt là lòng tham của con
người, dần dần họ trở nên khác biệt. [13]
Xuyên suốt
nhiều bài kinh trong kinh điển Pāli, Đức Phật khẳng định con người vốn không có
sự khác biệt khi sanh ra. Nguồn gốc của mỗi cá nhân không quyết định địa vị của
người đó trong xã hội. Về sau, do những điều kiện khác nhau, đơn cử như lao
động, họ được phân chia thành nhóm người nầy hay nhóm người khác. Trong Kinh Vāseṭṭha (Kinh Trung bộ), Đức Thế Tôn nói đẳng cấp không hình thành do sanh
đẻ, mà do hành động, chính hành động quyết định một người trở thành nông phu,
công thợ, lái buôn, nô bộc, ăn trộm, nhà binh, tế quan, vua chúa… [14]
Trong Kinh Kẻ bần tiện (Kinh Tiểu bộ), Ngài cũng nói: “Bần tiện
không vì sanh / Phạm chí không vì sanh / Do hành, thành bần tiện / Do hành,
thành Phạm chí.” [15]
Như vậy, đạo
Phật không phủ nhận sự khác biệt của con người, nhưng nhấn mạnh vào những
nguyên nhân xã hội, chứ không phải những nguyên nhân tự nhiên. Bởi thế, nhà
Phật không chấp nhận quan niệm đẳng cấp là vĩnh cửu của đạo Bà-la-môn. Trái
lại, mỗi cá nhân hoàn toàn có khả năng thay đổi vị thế của bản thân, tùy theo
những điều kiện xã hội cụ thể. Kinh
Assalāyana (Kinh Trung bộ) xác
nhận, trên thực tế thời bấy giờ, ở các quốc gia biên địa chỉ tồn tại hai giai
cấp là chủ nhân và đầy tớ, nhưng cũng không vĩnh cửu mà có thể bị thay đổi. [16]
Đặc biệt, ở
phương diện xã hội, điểm tiến bộ của Phật giáo là khẳng định con người bình
đẳng trước pháp luật. Dù ở đẳng cấp nào, khi gây ra những hành vi xấu ác, con
người đều phải chịu sự trừng phạt của luật pháp. Do đó, việc phân chia đẳng cấp
là vô nghĩa, vì đẳng cấp không bảo chứng cho sự tốt đẹp ở hành vi của con
người.
Kinh Madhurā (Kinh Trung bộ) tường thuật cuộc trò chuyện giữa Tôn giả Kaccana
(Ca-chiên-diên) - một trong những đại đệ tử của Đức Phật với vua Avantiputta xứ
Madhura. Tôn giả đặt vấn đề, nếu có người Khattiya “đột nhập nhà cửa, cướp giật
đồ đạc, hành động như kẻ cướp, phục kích các đường lớn hay tư thông vợ người”,
thì nhà vua đối xử với người ấy như thế nào. Nhà vua đáp: “Thưa Tôn giả
Kaccana, chúng tôi sẽ chém giết người ấy, hay chúng tôi sẽ tra tấn người ấy,
chúng tôi sẽ tẩn xuất người ấy hay chúng tôi sẽ áp dụng hình phạt tùy theo tội
trạng. Vì sao vậy? Thưa Tôn giả Kaccana, danh xưng Khattiya mà xưa kia người ấy
được gọi đã biến mất. Nay người ấy chỉ được gọi là tên ăn trộm.” Tôn giả tiếp
tục hỏi: “Nếu sự tình là như vậy, thời bốn chủng tánh này là đồng đẳng hay
không đồng đẳng?” Vua trả lời: “Thật vậy, thưa Tôn giả Kaccana, nếu sự tình là
như vậy, thời bốn chủng tánh này là đồng đẳng. Ở đây, tôi không thấy có sự sai
biệt gì.” [17]
3.3.
Bình đẳng trong hành trình tu tập
Theo quan niệm
của đạo Phật, chúng sanh chịu sự luân hồi vô tận qua nhiều kiếp sống. Ở mỗi
kiếp, tất cả đều trải qua chu trình sanh - già - bịnh - chết giống như nhau.
Con người về bản chất được cấu thành từ năm yếu tố là cơ thể (sắc), cảm xúc
(thọ), tri giác (tưởng), tâm tư (hành), nhận thức (thức). Do vậy, cấu trúc và
chu kỳ đời sống của mỗi cá thể theo góc nhìn của nhà Phật là tương đồng.
Song, trên thực
tế con người có những khác biệt ở bên ngoài. Ngoài nguyên nhân lao động nêu
trên, Phật giáo còn cho rằng hiện tượng đó bắt nguồn từ nghiệp mà họ đã gây
tạo. Trong nhiều bài kinh, Đức Phật nói sở dĩ có “người hạ liệt, kẻ cao sang,
người đẹp đẽ, kẻ thô xấu, người may mắn, kẻ bất hạnh đều do hạnh nghiệp của họ”. [18]
Nghiệp là hành
động có tác ý. Con người gây ra nghiệp thiện hay ác sẽ nhận về kết quả thiện
hoặc ác tương xứng. Cơ chế vận hành của nghiệp mang tính chất khách quan. Bất
kể người ở đẳng cấp nào đều không tránh khỏi những quy luật của nghiệp. Đức Thế
Tôn khẳng định: “Tất cả các loài hữu tình ấy là chủ nhân của nghiệp, là thừa tự
của nghiệp. Nghiệp là thai tạng, nghiệp là quyến thuộc, nghiệp là điểm tựa.
Phàm nghiệp nào họ sẽ làm thiện hay ác, họ sẽ thừa tự nghiệp ấy.” [19]
Tuy vậy, nghiệp
trong Phật giáo không phải là định mệnh, trói buộc con người. Trái lại, con
người hoàn toàn có khả năng thay đổi nghiệp. Chính từ quan điểm nầy, Đức Phật
đã đưa ra chuẩn mực mới để đánh giá con người trong xã hội, đó là đạo đức.
Không phải dòng giống quy định một người cao quý hay thấp hèn, mà trái lại
những hành vi đạo đức quyết định tư cách của người ấy.
Trong Kinh Esukārī (Kinh Trung bộ), Đức Thế Tôn cho biết, Ngài không nói rằng một người
tốt hay xấu do sanh trong gia đình cao quý, nhan sắc thù thắng, tài sản to lớn…
Trái lại, hình mẫu được Ngài đề cao là người “từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của
không cho, từ bỏ sống tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói láo, từ bỏ nói hai lưỡi,
từ bỏ nói lời độc ác, từ bỏ nói lời phù phiếm, không có tham tâm, không có sân
tâm, có chánh kiến”. [20] Đạo Phật gọi đó là mười nghiệp thiện.
Không chỉ thay
đổi nghiệp, con người thậm chí có thể vượt qua luân hồi bằng con đường tu tập
tâm linh và đây không phải là đặc quyền của bất cứ đẳng cấp nào. Trong Kinh Kaṇṇakatthala (thuộc Kinh Trung bộ), khi trả lời câu hỏi của
vua Pasenadi nước Kosala về sự khác biệt giữa bốn đẳng cấp trên con đường tu
tập hướng đến giải thoát, Đức Phật khẳng định: “Thưa Đại vương, Ta nói không có
sự khác biệt gì về phương diện giải thoát đối với giải thoát.” [21]
Như vậy, Phật
giáo khẳng định con người khác nhau vì “thừa tự” nghiệp khác nhau mà họ đã gây
tạo. Song, con người cũng là chủ nhân của nghiệp, có khả năng thay đổi nghiệp,
tiến xa hơn là chấm dứt khổ đau. Đây là quan điểm tiến bộ và nhân văn, nhờ đó
đã giải phóng con người khỏi lệ thuộc vào đấng tối cao của tôn giáo đương thời.
Không chỉ thế, nó còn thúc đẩy con người tích cực xây dựng đời sống thiện và
tránh xa những điều xấu để chuyển hóa nghiệp.
4. Mô hình hiện thực hóa tư tưởng bình đẳng
của Phật giáo
Không chỉ nêu
cao lý tưởng bình đẳng thông qua lời giáo hóa, Đức Phật còn hiện thực hóa lý
tưởng đó thông qua mô hình đoàn thể bình đẳng thật sự, đó là Tăng đoàn. Trong
ngữ cảnh Phật giáo, Tăng hay Tăng-già (Pāli: saṅgha) là đoàn thể đệ tử Phật,
không phân biệt giới tính, màu da, chủng tộc, trình độ, địa vị… Có thể liệt kê
một số trường hợp điển hình như thợ hớt tóc Upāli, người chăn bò Nanda, người
chăn ngựa Channa, người hốt rác Sunita, tướng cướp Aṅgulimāla… đều trở thành đệ
tử Phật.
Khi trở thành
thành viên Tăng đoàn, đẳng cấp của mỗi cá nhân bị triệt tiêu. Trong Kinh A-tu-la Pahārāda (Kinh Tăng
chi bộ), Đức Thế Tôn tuyên bố: “Ví như, này Pahārāda, phàm có các con sông
lớn nào, ví như sông Hằng, sông Yamunā, sông Aciravatī, sông Sarabhū, sông
Mahī, các con sông ấy khi chảy đến biển, liền bỏ tên họ cũ trở thành biển lớn.
Cũng vậy, này Pahārāda, có bốn giai cấp: Sát-đế-lỵ, Bà-la-môn, Phệ-xá, Thủ-đà,
sau khi từ bỏ gia đình, sống không gia đình, xuất gia trong Pháp và Luật được
Như Lai tuyên bố, họ từ bỏ tên và họ của họ từ trước, và họ trở thành những
Sa-môn Thích tử.” [22]
Chẳng những xóa
bỏ đẳng cấp, Đức Phật còn chủ trương bình đẳng giới tính. Tương tự nam giới, nữ
giới được đạo Phật đón nhận một cách rộng mở, từ quý tộc đến bần cùng đều có
thể trở thành đệ tử của Đức Thế Tôn nếu đủ duyên. Đối với xã hội Ấn Độ, sự kiện
nầy đã gây ra chấn động lớn. Tuy vậy, thông qua sự tu tập và chứng đạt, Tăng
đoàn Phật giáo đã chứng minh cho mọi người rằng bất kỳ ai đều hoàn toàn có khả
năng giác ngộ và giải thoát.
Sau khi mỗi
người được bình đẳng đón nhận vào đoàn thể đệ tử Phật, họ tiếp tục được bình
đẳng trong sinh hoạt Tăng-già. Ở đây, mỗi thành viên có tư cách ngang bằng
nhau. Nếu có khác biệt, thì đó là sự tôn kính cao hơn mà người xuất gia sau
dành cho người xuất gia trước. Tuy nhiên về nguyên tắc, mỗi thành viên trong
Tăng chúng đều có quyền biểu quyết, trình bày ý kiến, góp ý khuyết điểm của bạn
đồng tu và đón nhận những góp ý ngược lại về mình…
Bản thể của
Tăng-già là hòa hợp và thanh tịnh, điều đó giúp đoàn thể nầy có thể duy trì sự
ổn định và bền vững. Tính hòa hợp và thanh tịnh được thể hiện qua các hình thức
sinh hoạt tập thể (yết-ma, bố-tát, an cư, tự tứ…), các quy tắc ứng xử (sáu pháp
hòa kính, bảy pháp chấm dứt tranh cãi…), đặc biệt là sống nương tựa Pháp và sống
với sự phòng hộ của giới bổn Pāṭimokkha.
Chúng ta có thể
nhận thấy lối sống nầy thông qua Kinh
Gopaka Moggallāna (Kinh Trung bộ).
Trước câu hỏi của Bà-la-môn Gopaka Moggallāna về Tăng đoàn nương tựa ai sau khi
Đức Phật nhập diệt, Tôn giả Ānanda trả lời: “Trong những ngày Bố-tát (Uposatha)
chúng tôi cận trú ở chung một thôn điền, tất cả chúng tôi hội họp với nhau tại
một chỗ; sau khi tụ họp, chúng tôi hỏi những gì đã xảy ra cho mỗi một người.
Nếu trong khi hỏi nhau như vậy, có Tỷ-kheo phạm tội, phạm giới, chúng tôi bảo
vị ấy làm đúng Pháp, đúng lời dạy. Thật vậy, không phải các Tôn giả xử sự chúng
tôi, chính Pháp xử sự chúng tôi.” [23]
Bình đẳng trong
Tăng đoàn không có nghĩa mọi người tự do một cách tùy tiện. Thay vào đó, mỗi
thành viên có nghĩa vụ tuân thủ những quy tắc được chế định trong giới luật,
nhằm ngăn chặn những hành vi xấu ác, phát triển lối sống đạo đức, chuyển hóa và
hoàn thiện bản thân, đồng thời thể hiện sự tôn trọng đối với thành viên khác.
Giới luật trở thành thước đo cho tư cách của mỗi thành viên trong Tăng-già.
Cần nói thêm,
ngoài Tăng đoàn là hình mẫu của cộng đồng bình đẳng, Đức Phật còn khuyến khích
xây dựng quốc gia bình đẳng. Ngài cho rằng, một vị vua lý tưởng (Chuyển luân
Thánh vương) là “người bảo vệ hợp pháp cho thứ dân, cho quân đội, cho
Sát-đế-lỵ, cho quần thần, cho Bà-la-môn, cho gia chủ, cho thị dân, thôn dân,
cho Sa-môn, Bà-la-môn, cho các loài thú và loài chim”. [24] Đức Thế
Tôn hướng dẫn chánh sách cai trị quốc gia dựa trên đạo đức, người dân thường
xuyên tập hợp bàn bạc trên tinh thần đoàn kết, [25] nhà nước có vai
trò hỗ trợ cho các tầng lớp lao động để thúc đẩy sản xuất, [26] đặc
biệt là trợ cấp cho người nghèo khó… [27] Những phương thức quản trị ấy góp
phần giữ sự ổn định bền vững cho xã hội, giúp đất nước cường thịnh, người dân
no ấm.
Như vậy, để
hiện thực hóa tư tưởng bình đẳng, Đức Phật xây dựng mô hình Tăng-già là đoàn
thể bình đẳng lý tưởng. Tuy nhiên, không phải bất kỳ ai cũng có điều kiện trở
thành thành viên của Tăng đoàn, trong khi ngoài xã hội thế tục vẫn rất cần sự
bình đẳng. Do vậy, bên cạnh xây dựng tổ chức Tăng-già, Đức Thế Tôn còn khuyến
khích xây dựng mô hình quốc gia bình đẳng, đứng đầu là nhà lãnh đạo lý tưởng,
cai trị dân chúng bằng đạo đức. Điều nầy thể hiện tinh thần nhập thế sâu sắc và
tư tưởng cải tạo xã hội của đạo Phật từ thời kỳ đầu. Đó cũng là hướng đi mà
hàng ngàn năm sau, các tín đồ Phật giáo trên thế giới luôn dấn thân phụng sự.
5. Kết luận
Bình đẳng là
khát vọng lớn lao của con người từ xưa đến nay. Do vậy trong lịch sử, nhiều
cuộc đấu tranh đã nổ ra vì quyền bình đẳng cho con người. Trái lại, giữa xã hội
Ấn Độ phân tầng mạnh mẽ, quan niệm về bình đẳng của Phật giáo đã xuất hiện từ
rất sớm mà không cần trải qua sự đổ máu. Bằng những lập luận xác thực, sâu sắc,
thuyết phục, Đức Phật đã chứng minh cho xã hội đương thời về sự bình đẳng của
con người, đến nay vẫn còn nguyên giá trị đối với xã hội hiện đại.
Ở nghiên cứu nầy,
thông qua khảo sát và phân tích một số bài kinh có đề cập đến bình đẳng trong
kinh tạng Pāli, tác giả đã nêu lên những quan điểm chủ đạo của Đức Phật về bình
đẳng. Đóng góp của nghiên cứu nầy không dừng lại ở giới thiệu những tư tưởng
của Phật giáo về bình đẳng; mà còn làm rõ cách lập luận, những luận cứ được sử
dụng, những góc nhìn mới về con người so với quan điểm cùng thời… Qua đó có thể
nhận thấy, con người bình đẳng qua ba phương diện là nguồn gốc sinh học, đời
sống xã hội và lộ trình tu tập. Đức Thế Tôn cho rằng, sự khác biệt của con
người không phải do chủng tánh, mà do quá trình học tập, lao động, tương tác xã
hội… Đặc biệt, yếu tố quan trọng dẫn đến sự khác biệt của con người là nghiệp
đã gây tạo. Bởi thế, Phật giáo không tán đồng quan niệm cho rằng con người là
sản phẩm của thần linh và an phận với sự sắp xếp của thần linh. Đức Phật khẳng
định, bất kỳ ai đều có quyền và khả năng xây dựng đời sống hạnh phúc, dựa trên
sự nỗ lực của chính mình. Nếu đẳng cấp là tiêu chí mà đạo Bà-la-môn đánh giá
con người, thì thay vào đó Ngài xây dựng tiêu chí mới là đạo đức, mang đến một
quan điểm tiến bộ và nhân văn.
Không dừng lại
ở những lập luận, Phật giáo đã hiện thực hóa quan niệm bình đẳng thông qua mô
hình cộng đồng lý tưởng, đó là Tăng đoàn. Ở đây, con người chẳng những được xóa
bỏ những rào cản về màu da, chủng tộc, dòng dõi… mà còn bình đẳng trên con
đường tu tập và quả vị tu chứng. Như vậy với mục đích giải thoát, đạo Phật đã
thể hiện sự giải thoát qua hai phương diện: giải thoát xã hội là ra khỏi những
xiềng xích bất công, giải thoát tâm linh là ra khỏi sanh tử luân hồi.
VĨNH
THÔNG
(Bài đăng trên Tạp chí Dân tộc học và
Tôn giáo học, số 3 (8), 2026)
_______________________
CHÚ THÍCH:
1. Kinh điển Pāli được quen gọi là
kinh điển Nikāya. Song, ở phương diện học thuật, tên gọi nầy còn tranh luận, vì
“nikāya” có nghĩa là “bộ” (bộ kinh).
2. L. P. N. Perera (1990),
“Egalitarianism”, in G. P. Malalasekera (Edited), Encyclopaedia of Buddhism,
Volume V, Published by Government of Sri Lanka, p. 37.
3. Karma Lekshe Tsomo (2009), Ra
khỏi bóng tối, Thích Nữ Diệu Nghiêm dịch, Nxb Tôn giáo, tr. 700.
4. Hội đồng quốc gia chỉ đạo biên soạn
Từ điển bách khoa Việt Nam (1995), Từ điển bách khoa Việt Nam, Tập 1,
Trung tâm Biên soạn Từ điển bách khoa Việt Nam xuất bản, tr. 232.
5. Khoa Xã hội học (2016), Giáo
trình Xã hội học đại cương, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, tr. 241-242.
6. Viên Trí (2005), Ấn Độ Phật giáo
sử luận, Nxb Phương Đông, tr. 26.
7. Nguyên tác của L. P. N. Perera
(1990) là “anthropological argument”, bản dịch của Thích Nữ Hằng Liên (2016) là
“luận điểm nhân chủng học”. Tuy nhiên, đối với ngành Nhân học, thuật ngữ
“anthropology” được dịch là “nhân học” hoặc “nhân loại học”, đây là ngành khoa
học nghiên cứu về con người (trước đây có khi được dịch là “nhân chủng học”).
Trong khi đó, “physical anthropology” được dịch là “nhân chủng học” hoặc “nhân
học hình thể”, đây là một phân ngành của Nhân học, có đối tượng nghiên cứu là
các đặc điểm sinh học của con người.
8. L. P. N. Perera (1990), Sđd, tr.
38-40.
9. Hội đồng quốc
gia chỉ đạo biên soạn Từ điển Bách khoa Việt Nam (1995), Sđd, tr. 724.
10. Kinh Trung bộ (2012b), Tập
II, Thích Minh Châu dịch, Nxb Tôn giáo, tr. 241.
11. Kinh Trung bộ (2012b), Sđd,
tr. 191-192.
12. Kinh Trường bộ (2013),
Thích Minh Châu dịch, Nxb Tôn giáo, tr. 546.
13. Kinh Trường bộ (2013), Sđd,
tr. 549-556.
14. Kinh Trung bộ (2012b), Sđd,
tr. 249.
15. Kinh Tiểu bộ (2015), Tập I,
Thích Minh Châu dịch, Nxb Tôn giáo, tr. 356.
16. Kinh Trung bộ (2012b), Sđd,
tr. 187.
17. Kinh Trung bộ (2012b), Sđd,
tr. 116.
18. Kinh Trung bộ (2012a), Tập
I, Thích Minh Châu dịch, Nxb Tôn giáo, tr. 588.
19. Kinh Tăng chi bộ (2015),
Tập I, Thích Minh Châu dịch, Nxb Tôn giáo, tr. 674.
20. Kinh Trung bộ (2012b), Sđd,
tr. 219.
21. Kinh Trung bộ (2012b), Sđd,
tr. 157.
22. Kinh Tăng chi bộ (2015b), Tập II, Thích Minh Châu dịch, Nxb Tôn
giáo, tr. 328.
23. Kinh Trung bộ (2012b), Sđd,
tr. 333-334.
24. Kinh Trường bộ (2013), Sđd,
tr. 529.
25. Kinh Trường bộ (2013), Sđd, tr. 278.
26. Kinh Trường bộ (2013), Sđd,
tr. 130.
27. Kinh Trường bộ (2013), Sđd,
tr. 529.
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1. Hội đồng quốc gia chỉ đạo biên soạn
Từ điển bách khoa Việt Nam (1995), Từ
điển bách khoa Việt Nam, Tập 1, Trung tâm Biên soạn Từ điển bách khoa Việt
Nam xuất bản.
2. Karma Lekshe Tsomo (2009), Ra khỏi bóng tối, Thích Nữ Diệu Nghiêm
dịch, Nxb Tôn giáo.
3. Khoa Xã hội học (2016), Giáo trình Xã hội học đại cương, Nxb Đại
học Quốc gia Hà Nội.
4. L. P. N. Perera (1990),
“Egalitarianism”, in G. P. Malalasekera (Edited), Encyclopaedia of Buddhism, Volume V, Published by Government of Sri
Lanka, p. 37-42.
(Tham khảo bản dịch: L. P.N. Perera (2016), “Quan niệm của
đạo Phật về chủ nghĩa bình đẳng”, Thích Nữ Hằng Liên dịch & Thích Nhật Từ
hiệu đính, Website Thư viện Hoa Sen
(www.thuvienhoasen.org), 1/1/2016)
5. Kinh Trung bộ (2012a), Tập I, Thích Minh Châu dịch, Nxb Tôn giáo.
6. Kinh Trung bộ (2012b),
Tập II, Thích Minh Châu dịch, Nxb Tôn giáo.
7. Kinh Trường bộ (2013),
Thích Minh Châu dịch, Nxb Tôn giáo.
8. Kinh Tăng chi bộ (2015a), Tập I, Thích Minh Châu dịch, Nxb Tôn giáo.
9. Kinh Tăng chi bộ (2015b), Tập II, Thích Minh Châu dịch, Nxb Tôn giáo.
10. Kinh Tiểu bộ (2015), Tập I, Thích Minh Châu dịch, Nxb Tôn giáo.
11. Viên Trí (2005), Ấn Độ Phật giáo sử luận, Nxb Phương Đông.
Comments[ 0 ]
Đăng nhận xét