Home » PHẬT GIÁO
1. Dẫn nhập
Ngày nay, bình đẳng là lý tưởng chung mà các quốc gia trên thế giới đều hướng đến. Tuy nhiên không phải đến nay, mà từ xa xưa những con người có địa vị thấp kém trong xã hội đều mong mỏi được đối xử bình đẳng, được tôn trọng, được quyền làm người… Để đạt được khát vọng đó, con người đã trải qua lịch sử hàng ngàn năm đấu tranh với những quan niệm hà khắc của giới cầm quyền. Dẫu vậy hiện nay, bình đẳng chưa thật sự có mặt, hoặc chưa thể hiện trọn vẹn ở một số nơi trên thế giới. Bình đẳng vẫn còn là niềm trăn trở của loài người.
1. Dẫn nhập
Hầu hết các tôn giáo trên thế giới để có thể tồn tại và phát triển, ngoài vai trò chủ đạo của con người thì kinh điển có tầm quan trọng không kém, bởi đó là nơi lưu trữ và truyền bá giáo lý của tôn giáo ấy. Phật giáo không ngoại lệ. Ngày nay, Phật giáo còn lưu giữ được kho tàng Thánh điển đồ sộ với nhiều ngôn ngữ như Sanskrit, Pāli, Hán, Tây Tạng… Trong đó, văn học Pāli được đánh giá là hệ thống văn học Phật giáo hoàn thiện nhứt.
Thiền là phương pháp tu tập cốt tủy của đạo Phật. Trải qua hàng ngàn năm, thiền Phật giáo đã lan tỏa khắp thế giới. Đến mỗi nơi, pháp tu thiền ít nhiều biến đổi, tùy theo bối cảnh văn hóa, trình độ của quần chúng, sự chứng ngộ của mỗi thiền sư… Điều đó mang đến tính phong phú cho các khuynh hướng tiếp cận và thực hành thiền. Gác qua những khác biệt ít ỏi, mục đích tối hậu của thiền Phật giáo nói chung không nằm ngoài việc mang đến cho hành giả sự thấy biết đúng đắn về bản chất của thực tại. Bởi thế, nghiên cứu các dòng thiền với những tương đồng và dị biệt sẽ cho thấy sự linh hoạt của mỗi thiền sư, mỗi nền văn hóa, mỗi thời đại và tính chất “thống nhứt trong đa dạng” của thiền Phật giáo.
Đầu-đà là một trong những phương pháp tu tập của Phật giáo. Thời Đức Phật tại thế, hạnh đầu-đà được một bộ phận Tăng chúng thọ trì. Ngày nay ở nhiều quốc gia, một số Tỳ-kheo vẫn thực hành lối tu nầy. Tuy nhiên, từ các hiện tượng mạng xã hội trong thời gian gần đây, không ít người đưa ra những nhận định chưa chính xác về hạnh đầu-đà. Chẳng hạn, họ cho rằng hạnh đầu-đà tái hiện hình ảnh Tăng đoàn thời Đức Phật, thậm chí là con đường độc nhứt để giải thoát… Tệ hại hơn, họ cho rằng Đức Phật đã từ bỏ hạnh đầu-đà vì “không giữ nổi” pháp hành nầy! Đó là những ý kiến cần trao đổi lại.
1. Dẫn nhập
Trong hàng ngũ đệ tử của Đức Phật Thích Ca, có thể nói Tôn giả Rāhula là trường hợp rất đặc biệt. Bởi lẽ, trước tiên ngài xuất thân là con ruột của Thái tử Siddhattha - người về sau trở thành đấng Giác ngộ. Không chỉ thế, ngài còn là người con trong giáo pháp Thế Tôn, đón nhận sự giáo dưỡng trực tiếp và sâu sắc từ Đức Phật.
Trong Phật giáo, khái niệm năm uẩn có thể được hiểu là toàn bộ sự sống của mỗi chúng sanh. Năm uẩn được nhóm vào hai bình diện là thân và tâm, trong đó sắc uẩn thuộc về thân, năm uẩn còn lại là thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn, thức uẩn thuộc về tâm. Nói cách khác, mỗi cá thể có mặt trên đời nầy đều là sự có mặt của năm uẩn. Do vậy, năm uẩn là một trong những giáo lý quan trọng hàng đầu của Phật giáo, nền tảng tiền đề để triển khai các giáo lý có liên quan. Ngay từ những bài pháp đầu tiên, Đức Phật đã giảng dạy những vấn đề liên quan đến năm uẩn. Bởi thế, khi có sự hiểu biết về năm uẩn, hành giả dễ dàng hơn trong lộ trình tu tập giải thoát.
Trong quốc gia, xã hội hay tổ chức nào đều cần có những quy định nhằm giữ gìn sự ổn định và phát triển cho tập thể. Phật giáo không ngoại lệ. Chẳng những vậy, Phật giáo có cả kho tàng giới luật (Luật tạng) vừa đồ sộ nhưng cũng vừa chi tiết. Điều đó, một mặt cho thấy sự quan tâm của Đức Phật đối với phẩm hạnh của chúng đệ tử, một mặt cho thấy tầm quan trọng của giới luật trong tiến trình tu tập tiến đến giải thoát. Nhờ sống trong sự phòng hộ của giới luật, mỗi cá nhân có thể giữ gìn sự trong sạch cho bản thân, từ đó kết hợp với nhau hình thành đoàn thể trong sạch.
Kinh Trung bộ là tác phẩm đồ sộ trong Kinh tạng, nêu bật nhiều đề tài đa dạng, bao quát các khía cạnh trong hệ thống tư tưởng Phật giáo. Trong đó, nhiều bài kinh đề cập đến nếp sống Phạm hạnh của Tăng chúng - những người duy trì mạng mạch Chánh pháp. Qua những kinh văn ấy, người đọc không chỉ hiểu biết thêm về những đặc điểm của Tăng đoàn, mà còn nhận thấy phương pháp giáo dục của Đức Phật đối với hội chúng đệ tử.
Lần giở từng trang Kinh Trung bộ - một trong năm bộ kinh thuộc kinh tạng Pāli, người đọc có thể dõi theo những bước chân của Đức Phật trải khắp các xứ sở quanh vùng Đông Bắc Ấn Độ. Chúng ta có cơ hội lắng nghe những cuộc thảo luận, những lời giáo hóa, những cách hành xử… mà Đức Thế Tôn dành cho nhiều đối tượng khác nhau. Đồng thời, có cả những lời Ngài tự thuật về chính cuộc đời mình.
Trong Kinh Trung bộ, Kinh Gopaka Moggallāna (số 108) là một bài kinh đáng chú ý. Bởi, bài kinh ra đời sau khi Đức Phật thị tịch chưa lâu, người giảng là Tôn giả Ānanda, người nghe là các vị Bà-la-môn, lại đề cập đến một vấn đề quan trọng đời sống Tăng-già thời đó và có ý nghĩa đến tận ngày nay. Bài kinh tương đương trong Kinh Trung A-hàm là Kinh Cù-mặc Mục-kiền-liên (số 145).
Khi
tán thán Đức Phật, hàng đệ tử thường ca ngợi Ngài là bậc tự mình giác ngộ,
không thầy chỉ dạy. Tuy nhiên, lời tán thán ấy chắc hẳn khiến không ít người băn
khoăn về quá trình Thái tử Siddhāttha xuất gia tìm đạo, vai trò và ảnh hưởng của
những người thầy mà Ngài từng theo học, sự tự tu và tự chứng của Ngài…
Ấn Độ là mảnh đất có sự phát triển phong phú của các truyền thống tư tưởng. Trước khi Tăng đoàn Phật giáo ra đời, nơi đây đã tồn tại nhiều đoàn thể tôn giáo cạnh tranh sức ảnh hưởng lẫn nhau. Tuy nhiên sau đó, Tăng đoàn Phật giáo đã tạo nên những tác động mạnh mẽ đến đời sống xã hội và triết lý tôn giáo đương thời. Sự tác động ấy không chỉ kéo dài gần hai thiên niên kỷ tại Ấn Độ, mà còn để lại nhiều bài học cho con người ngày nay.
Kinh Trung bộ là tác phẩm quan trọng trong kinh tạng Pāli. Cả bộ kinh gồm 152 bài kinh có độ dài trung bình. Mỗi bài kinh đề cập đến những đề tài khác nhau, kết hợp thành tổng thể rất đa dạng. Một trong những mảng chủ đề lớn được xuất hiện ở nhiều bài kinh trong Kinh Trung bộ chính là lộ trình tu tập.
Kinh Milinda vấn đạo (Milindapañhā) là tác phẩm ghi lại những cuộc hỏi đáp về Phật pháp giữa vua Milinda (Mi-lan-đà) và Tỳ-kheo Nāgasena (Na-tiên) có niên đại khoảng thế kỷ I trước Tây lịch. Nội dung các câu hỏi xoay quanh những vấn đề tinh yếu trong giáo lý của Đức Phật, được giải đáp qua những kiến giải trung thành với quan điểm nguyên thủy của Phật giáo. Do đó, kinh nầy được xem là tác phẩm quan trọng trong nghiên cứu Phật học. Ở Việt Nam, Kinh Milinda vấn đạo được phổ biến với hai phiên bản là Kinh Na-tiên Tỳ-kheo trong Bắc tạng và Kinh Mi Tiên vấn đáp trong Nam tạng. Trong bài viết nầy, chúng tôi sử dụng dữ liệu từ Kinh Mi Tiên vấn đáp.