1. Dẫn nhập
Hầu hết các tôn giáo trên thế giới để có thể tồn tại và phát triển, ngoài vai trò chủ đạo của con người thì kinh điển có tầm quan trọng không kém, bởi đó là nơi lưu trữ và truyền bá giáo lý của tôn giáo ấy. Phật giáo không ngoại lệ. Ngày nay, Phật giáo còn lưu giữ được kho tàng Thánh điển đồ sộ với nhiều ngôn ngữ như Sanskrit, Pāli, Hán, Tây Tạng… Trong đó, văn học Pāli được đánh giá là hệ thống văn học Phật giáo hoàn thiện nhứt.
Văn học Pāli
rất đa dạng về nội dung và hình thức. Ở đó, ngoài Kinh tạng là nguồn tư liệu
quan trọng nhứt do chính Đức Phật nói ra, còn có nhiều tác phẩm được các luận
sư đời sau biên soạn để phân tích chi tiết những ý pháp mà Đức Thế Tôn đã tuyên
thuyết. Dù phong phú như vậy, nhưng tựu trung lại, tất cả các tác phẩm không
nằm ngoài mục đích cuối cùng là hướng dẫn con người phương hướng tu tập để giải
thoát khổ đau.
Điểm đặc biệt,
Tam tạng Pāli đã giữ được tính nguyên thủy gần với thời đại của Đức Phật hơn
các trường phái Phật giáo khác. Bởi, bộ phái truyền thừa văn liệu nầy là Thượng
tọa bộ (Theravāda), với chủ trương giữ gìn gần như nguyên vẹn những lời dạy của
Đức Thế Tôn. Điều nầy khiến toàn bộ Thánh điển Pāli có tính thống nhứt cao về
tư tưởng, không rời rạc, chồng chéo, mâu thuẫn…
Chình vì những
lý do nêu trên, văn học Pāli được giới nghiên cứu đánh giá cao và xem là nguồn
tham chiếu đáng tin cậy khi thực hiện các công trình nghiên cứu về Phật giáo.
Đối với những người theo đạo Phật, văn học Pāli là nguồn tư liệu cần thiết và
quan trọng trong quá trình học hỏi và thực hành giáo pháp của Đức Thế Tôn.
2. Nguồn gốc tiếng Pāli
Tiếng Pāli là
một trong những ngôn ngữ cổ ở bán đảo Ấn Độ, đặc biệt là ngôn ngữ truyền bá
Phật giáo Thượng tọa bộ. Ở Việt Nam, các dịch giả đôi khi sử dụng thuật ngữ Nam
Phạn để chỉ cho tiếng Pāli, phân biệt với tiếng Sanskrit là Bắc Phạn. Mặc dù
ngôn ngữ và văn liệu Pāli được giới nghiên cứu rất quan tâm, tuy vậy tiếng Pāli
có nguồn gốc như thế nào, đến nay các lý giải cho câu hỏi nầy chưa thống nhứt.
Theo quan điểm truyền thống của Phật
giáo Thượng tọa bộ, tiếng Pāli có tiền thân là ngôn ngữ của cư dân nước Magadha
(Ma-kiệt-đà). Đây là vương quốc cổ thời Đức Phật, đồng thời là một trong những
trung tâm hoằng pháp của Ngài, ngày nay là bang Bihar ở miền Đông Ấn Độ.
Theo quan điểm hiện đại của các nhà ngôn
ngữ học, tiếng Pāli được xếp vào ngữ hệ Ấn - Âu trung đại, xuất hiện sau tiếng
Sanskrit khá muộn. Bhikkhu Bodhi cho rằng, tiếng Pāli là sự pha trộn của một số
ngôn ngữ Prakrit khoảng thế kỷ III TTL và Sanskrit hóa một phần. [1] Còn
theo K. R. Norman, không có phương ngữ nào thuộc ngữ hệ Ấn - Âu cổ đại có tất
cả các đặc điểm của tiếng Pāli. [2]
Từ “Pāli” có
nghĩa là “các hàng chữ” hoặc “văn bản gốc”. Phật giáo Thượng tọa bộ giải thích,
thuật ngữ “Pāli” thời kỳ đầu được dùng chỉ các tác phẩm nguyên thủy (Chánh
tạng), phân biệt với các tác phẩm chú giải hoặc dịch thuật, do đó nó còn có
nghĩa là “kinh điển”. Tuy vậy trên thực tế, từ “Pāli” không xuất hiện trong các
văn bản thuộc Tam tạng Thánh điển ban đầu, mà xuất hiện trong các tác phẩm về
sau. K. R. Norman cho rằng, thuật ngữ nầy có thể đã xuất hiện ở Sri Lanka đầu
thế kỷ II, mà người ta đã nhầm lẫn từ ghép “Pāli-bhāsa” có nghĩa là “ngôn ngữ
kinh điển” trở thành “ngôn ngữ Pāli” và xem đó là tên của một ngôn ngữ. [3]
Vào thế kỷ
XIII, nhà sử học Tây Tạng Buton Rinchen Drub cho rằng, các bộ phái Phật giáo
thời kỳ đầu đã lựa chọn sử dụng các ngôn ngữ khác nhau để truyền bá Tam tạng,
chẳng hạn Đại chúng bộ (Mahāsāṃghika) sử dụng tiếng Prākrit, Thuyết nhất thiết
hữu bộ (Sarvāstivādin) sử dụng tiếng Sanskrit, Trưởng lão bộ (Sthaviravādin) sử
dụng tiếng Paiśācī, Chánh lượng bộ (Saṃmitīya) sử dụng tiếng Apabhraṃśa…[4] Từ nhận định nầy, các học giả hiện đại đã đưa ra giả thuyết về mối quan
hệ giữa tiếng Paiśācī và tiếng Pāli. Song, cho đến nay, quê hương của tiếng
Pāli vẫn là câu hỏi chưa lời đáp.
Đặc biệt, Pāli
là ngôn ngữ không có chữ viết riêng. Ở mỗi quốc gia, người ta sử dụng chữ viết
của quốc gia đó để ghi âm tiếng Pāli. Năm 1881, Pali Text Society (Hội Thánh
điển Pāli) được thành lập, đặt trụ sở tại Anh quốc. Hội đã sử dụng bảng chữ cái
Latinh để ghi âm tiếng Pāli, được cộng đồng Phật giáo quốc tế ủng hộ và sử dụng
rộng rãi đến nay.
3. Tổng quan về văn học Pāli
Văn học Pāli là
hệ thống các tác phẩm Phật giáo lưu truyền bằng tiếng Pāli, ban đầu chỉ truyền
miệng, về sau được ghi chép. Các tác phẩm nầy chủ yếu thuộc trường phái Thượng
tọa bộ. Văn học Pāli rất phong phú, trong đó nổi bật là ba nhóm: Kinh (Sutta)
là những bài giảng của Đức Phật, Luật (Vinaya) là những quy tắc ứng xử trong
Tăng đoàn, Luận (Abhidhamma) là những phân tích về tư tưởng Phật giáo. Ngoài
ra, văn học Pāli có các tác phẩm chú giải, lịch sử, thơ ca, hướng dẫn… Phần lớn
các tác phẩm đã đến từ Sri Lanka - vùng đất được xem là trung tâm của Phật giáo
Thượng tọa bộ.
Về nguồn gốc
văn học Pāli, hiện nay chưa thể khẳng định chính xác về niên đại ra đời của văn
học truyền miệng, có khả năng là khoảng thế kỷ III TTL. Chúng ta biết, trong 45
năm hoằng pháp, những lời dạy của Đức Phật không được ghi chép thành văn bản,
mà được chư Tăng Ni đọc tụng, học thuộc lòng, truyền miệng. Truyền thống nầy
tiếp tục được duy trì sau khi Đức Thế Tôn nhập Niết-bàn. Ba tháng sau khi Đức
Phật diệt độ, Đại hội Kết tập Tam tạng lần thứ nhứt diễn ra ở thành Rājagaha
(Vương Xá). Tại đây, Tôn giả Ananda đã đọc lại Pháp (Dharma) là những lời dạy
của Đức Phật và Tôn giả Upali đã đọc lại Luật (Vinaya) là những quy định trong
Tăng đoàn.
Đại hội Kết tập
Tam tạng lần thứ hai diễn ra tại Vesāli (Tý-xá-li) vào khoảng 100 năm sau khi
Đức Thế Tôn nhập diệt. Trải qua hơn một thế kỷ tiếp theo, Đại hội Kết tập Tam
tạng lần thứ ba diễn ra tại Pātaliputta (Hoa Thị). Lúc nầy, Tam tạng được sắp
xếp một cách trật tự. Sau đó, vua Asoka cử nhiều phái đoàn truyền giáo đến các
quốc gia láng giềng. Trong đó, đoàn truyền giáo do Trưởng lão Mahinda dẫn đầu
đến Sri Lanka và Tam tạng bắt đầu xuất hiện ở đảo quốc nầy, hình thức vẫn là
truyền miệng.
Văn học viết ra
đời muộn hơn. Phật giáo Thượng tọa bộ cho rằng, trong Đại hội Kết tập Tam tạng
lần thứ tư tại Sri Lanka vào khoảng thế kỷ I TTL, Tam tạng được viết trên lá
bối bằng chữ Sinhala. [5] Đến khoảng thế kỷ V, khi đó Luận sư Buddhaghosa từ Ấn
Độ đến Sri Lanka đã dịch thuật và biên tập Tam tạng Sinhala sang ngôn ngữ Pāli.
Trái lại theo Steven Collins, những bản khắc bằng tiếng Pāli sớm nhứt thế giới
được tìm thấy có niên đại là thế kỷ I, nhưng ở Đông Nam Á lục địa, [6] chứ
không phải Sri Lanka.
Về phân loại,
văn học Pāli bao gồm:
(1) Chánh tạng (2)
Tạp tạng
(3) Chú giải (4)
Phụ chú giải
(5) Các sử liệu
Pāli (6)
Sách giản lục
(7) Các tác
phẩm thi ca hậu thời (8)
Sách văn phạm Pāli
(9) Các tác phẩm về ngữ âm học, tu từ học và từ vựng Pāli
Trong đó, bộ
phận quan trọng nhứt là Chánh tạng, thường gọi là Tam tạng (Tipiṭaka). Từ
“piṭaka” trong tiếng Pāli có nghĩa là giỏ, nhóm, tập hợp… Hán dịch “tạng” có
nghĩa là kho tàng. Tam tạng bao gồm Kinh tạng (Suttanta piṭaka) là lời thuyết
giảng của Đức Phật và một số ít của các đệ tử, Luật tạng (Vinaya piṭaka) là các
quy tắc sinh hoạt của người xuất gia và một số thông tin về lịch sử phát triển
của Tăng đoàn, Luận tạng (Abhidhamma piṭaka) là công trình phân tích chi tiết
về triết học và tâm lý học Phật giáo.
Ở Việt Nam, dù
Phật giáo có mặt trên hai ngàn năm, nhưng chủ đạo là Đại thừa, nên Thánh điển
Pāli được phiên dịch muộn. Từ thập niên 1960 đến thập niên 1990, Hòa thượng
Thích Minh Châu đã phiên dịch Kinh tạng
(trong đó một phần nhỏ do cư sĩ Nguyên Tâm - Trần Phương Lan cùng tham gia thực
hiện). Song song đó, Hòa thượng Tịnh Sự phiên dịch Luận tạng và quý Tôn túc Phật giáo Nam tông như Hòa thượng Hộ Tông,
Hòa thượng Bửu Chơn, Hòa thượng Giới Nghiêm cũng tham gia phiên dịch một số tác
phẩm. [7] Thập niên 2010, Thượng tọa Indacanda (Chánh Thân) phiên
dịch Luật tạng, Kinh Tiểu bộ thuộc Kinh tạng
và một số tác phẩm khác.
4. Giá trị của văn học Pāli
Văn học Pāli là
nguồn tư liệu có giá trị quan trọng hàng đầu của Phật giáo. Trong đó, Tam tạng
là trụ cột của hệ thống văn điển nầy. “Đó là những pháp thoại của Đức Phật,
những câu chuyện ngụ ngôn văn chương, thi ca đậm màu giải thoát và những bước
đi lịch sử của Tăng đoàn với nhiều bài giảng của chư vị Thánh Tăng, Thánh Ni.”
[8] Qua thời gian, các tác phẩm nghiên cứu, chú giải, dịch thuật,
hướng dẫn… ra đời về sau càng lúc càng phong phú. Những công trình ấy đã góp
phần giúp kho tàng Thánh điển Pāli trở nên đồ sộ cả về dung lượng lẫn tư tưởng
và trở thành di sản vô giá của nhân loại. Nhìn về tầm quan trọng của văn học
Pāli, chúng ta có thể nhận định qua một số phương diện sau:
Về
phương diện tư tưởng, nội dung Thánh điển Pāli chứa đựng những tư tưởng
thâm sâu trong triết học Phật giáo, nhưng cũng đầy tính thực tiễn, có khả năng
hướng dẫn con người thực tập để đi đến giác ngộ. Cũng như Kinh Ví dụ tấm vải (Kinh
Trung bộ) đã khẳng định: “Pháp được Thế Tôn khéo thuyết giảng, thiết thực
hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được
người có trí chứng hiểu.” [9]
Văn học Pāli
bao quát nhiều đề tài rộng lớn khác nhau, không chỉ có những phương pháp tu tập
của người xuất gia, cách rèn luyện tâm, con đường đi đến giải thoát… mà còn có
các quan hệ xã hội, đường lối quản trị đất nước, cách xây dựng đời sống hạnh
phúc cho cư sĩ… Nhìn chung, tất cả đều xoay quanh ba trụ cột chính là trách
nhiệm đạo đức (giới), an tịnh tâm hồn (định) và nhận thức đúng đắn (tuệ).
Ngoài bộ phận
cốt lõi là Tam tạng, các tác phẩm ra đời sau nầy như chú thích, luận giải,
hướng dẫn, thơ ca, từ vựng… cũng đóng góp đáng kể vào sự phong phú về tư tưởng
Phật giáo nói chung và tư tưởng Thượng tọa bộ nói riêng.
Về
phương diện lịch sử, vì tiếng Pāli là một trong những ngôn ngữ truyền
bá Phật giáo được ghi chép từ rất sớm, nên văn học Pāli được xem là “nguồn tài
liệu đáng chú ý và được xem trọng hơn bất kỳ nguồn tài liệu nào khác, nếu chúng
ta muốn có được bất kỳ thông tin nào về Đức Phật và cuộc đời của Ngài.” [10]
Quả như thế,
Thánh điển Pāli (mà chủ yếu là Kinh tạng
và Luật tạng) đã tái hiện sinh động
hình ảnh Đức Thế Tôn du phương giáo hóa khắp mọi nơi, tiếp xúc với mọi tầng lớp
trong xã hội, thuyết giảng nhiều vấn đề, giải đáp nhiều thắc mắc của quần
chúng… Ngài trình bày rất tự nhiên nhưng cũng rất thuyết phục, với nhiều hình
thức khác nhau tùy theo đối tượng đang đối thoại. Nhờ đó, người đời sau có
nguồn tham khảo đáng tin cậy về lịch sử của Đức Phật và Tăng đoàn. Hiện nay,
ngoại trừ văn điển Pāli, không có nguồn văn điển Phật giáo nào thể hiện tính
lịch sử đậm nét như thế.
Về
phương diện xã hội, văn học Pāli cung cấp cho người đọc những dữ liệu
mang tính thực tiễn về đời sống của cư dân Ấn Độ thời Đức Phật. Qua đó, chúng
ta không chỉ biết những thông tin về Phật giáo, mà còn biết về bối cảnh Ấn Độ
cổ đại qua các khía cạnh đa dạng như chánh trị, quân sự, kinh tế, văn hóa, xã
hội… Đó cũng là những gì mà Đức Thế Tôn và các đệ tử đã trực tiếp tiếp xúc,
trải qua, gắn bó.
Bởi thế, mặc dù
là Thánh điển tôn giáo, nhưng các tác phẩm Pāli đồng thời được xem là tư liệu
cần thiết để nghiên cứu về các vấn đề liên quan đến nền văn minh Ấn Độ cách đây
hàng ngàn năm. Maurice Winternitz đánh giá: “Văn học Veda dẫn chúng ta vào các
thời đại cổ xưa thời tiền sử, chỉ với văn học Phật giáo chúng ta mới thật sự
đặt chân vào thời đại sáng sủa của lịch sử. Và chúng ta thấy rằng trong chừng
mực nào đó màn đêm của các tài liệu Veda và sử thi Ấn Độ bị đẩy lùi bởi ánh
sáng này.” [11]
Về
phương diện ngôn ngữ, tiếng Pāli được đánh giá là ngôn ngữ khá gần gũi
với lời nói thường ngày mà Đức Phật đã sử dụng. [12] Đồng thời, tiếng Pāli có
những ưu điểm là ngôn ngữ đã phát triển khá hoàn thiện, như S. C. Banerji nhận
xét đó là “một thứ tiếng quá đỗi đắc dụng và có nhiều khả năng chuyển tải”. [13]
Do đó, nó có khả năng diễn đạt một cách trọn vẹn, sinh động và tinh tế những
vấn đề trong bối cảnh Ấn Độ - nền văn hóa gắn liền với Phật giáo.
Quả vậy, đọc
qua Tam tạng Pāli, người đọc có thể nhận thấy những lời nói gần gũi với đời
sống thực tiễn của quần chúng, không gọt giũa, không trau chuốt. Trong khi đó,
Tam tạng Sanskrit mà hậu thân là Tam tạng Hán ngữ bị biên tập khá rõ nét. Mặt
khác, văn học Pāli ít chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố ngoại nhập, ít bị “bản địa
hóa” khi truyền sang Sri Lanka, Myanmar, Thái Lan, Lào, Cambodia… Đây cũng là
ưu điểm của văn điển Pāli so với văn điển Sanskrit, Hán và Tây Tạng.
Về
phương diện bộ phái, ngoài giá trị đối với Phật giáo nói chung, văn học
Pāli có giá trị đặc biệt quan trọng đối với Thượng tọa bộ nói riêng. Bởi đây là
kho tàng lưu giữ tất cả những tinh hoa của bộ phái nầy, từ tư tưởng đến lịch sử
và những vấn đề có liên quan.
Chúng ta biết,
Thánh điển của các bộ phái Phật giáo ở Ấn Độ gần như đã biến mất sau khi đất
nước nầy bị những người theo Islam giáo xâm chiếm và tàn phá vào thế kỷ XI -
XII. May mắn là, Tam tạng Sanskrit được truyền sang Trung Hoa và lưu giữ khá
đầy đủ ở phiên bản chữ Hán, nhưng đó là bộ sưu tập từ nhiều bộ phái khác nhau: Trường A-hàm (Dīrgha Āgama) thuộc Pháp tạng bộ (Dharmaguptaka), Trung A-hàm (Madhyama Āgama) thuộc Thuyết nhất thiết hữu bộ (Sarvāstivāda), Tạp A-hàm (Saṃyukta Āgama) thuộc Căn bản thuyết nhất thiết hữu bộ
(Mūlasarvāstivāda), Tăng nhất A-hàm (Ekottara Āgama) thuộc Đại chúng bộ
(Mahāsaṅgika).
Trong khi đó,
Tam tạng Pāli được lưu giữ ở Sri Lanka nên tránh khỏi tai họa từ chiến tranh,
đồng thời là bộ sưu tập trọn vẹn tư tưởng của một bộ phái duy nhứt là Thượng
tọa bộ. Điều đó mang lại tính thống nhứt, không mâu thuẫn, không chồng chéo của
văn học Pāli.
5. Văn học Pāli trong đời sống hiện nay
Nhờ Thánh điển
Pāli, những lời dạy cao quý của Đức Thế Tôn được bảo tồn gần như nguyên vẹn đến
nay, nhờ vậy mà những thế hệ sau thời đại của Đức Phật có cơ hội tiếp xúc, tìm
hiểu, thực tập những đường lối mà Ngài đã chứng đạt hơn hai ngàn năm trước.
Ngày nay, để có
được Thánh điển nầy là công sức của nhiều thế hệ Tăng Ni. Họ không chỉ gìn giữ
và truyền bá Tam tạng, mà còn biên tập, bổ sung, luận giải để hình thành hệ
thống phong phú. Bên cạnh đó, không thể không kể đến vai trò của giới nghiên
cứu. Dù đến từ phương Đông hay phương Tây, nhưng với sự trân trọng dành cho
Phật Pháp, họ đã vượt qua những rào cản khác biệt về văn hóa để nghiên cứu về
văn học Pāli, góp phần đưa các tác phẩm đến với thế giới.
Nếu nhiều thế
kỷ trước, văn học Pāli đã có ở các quốc gia Phật giáo Thượng tọa bộ như Sri
Lanka, Myanmar, Thái Lan, Lào, Cambodia… thì hiện nay văn học Pāli đã có ở
nhiều quốc gia trên thế giới, thậm chí các quốc gia không có truyền thống Phật
giáo. Điều đó không chỉ thể hiện tầm quan trọng của hệ thống văn điển nầy, mà
còn chứng minh những giá trị của Phật pháp đối với đời sống con người ở mọi
thời đại, mọi khu vực, mọi đối tượng. Không chỉ vậy, vượt ra khỏi phạm vi tôn
giáo, ngày nay Thánh điển Pāli được dịch ra nhiều thứ tiếng, được giảng dạy ở
nhiều đại học trên thế giới, trở thành chủ đề lớn được nhiều học giả Phật giáo
khai thác.
Đối với những
tín đồ Phật giáo ở Việt Nam ngày nay, việc tìm hiểu Thánh điển Pāli là cần
thiết, nhằm nương theo giáo lý nguyên thủy để tu tập. Dù là quốc gia Phật giáo
với hai ngàn năm lịch sử, tuy vậy Việt Nam chịu ảnh hưởng sâu đậm từ Phật giáo
Đại thừa, kết hợp các truyền thống tư tưởng - tôn giáo Đông Á như Nho giáo và
Đạo giáo, tín ngưỡng dân gian… Do đó, Phật giáo không giữ được tính nguyên bản
so với thời kỳ đầu. Tất nhiên, sự phát triển của mỗi tôn giáo là quy luật tất
yếu không thể tránh khỏi, song đi quá xa có thể dẫn đến lệch lạc. Do vậy, sự
quay về cội nguồn với Thánh điển Pāli là phương cách hữu hiệu để Phật giáo Việt
Nam “gạn đục khơi trong”, định hướng đúng đắn và thực hành có hiệu quả con
đường tu tập.
Tuy nhiên, khi
đã là đệ tử Phật, chúng ta cần lưu ý Tam tạng Thánh điển có giá trị đến đâu
cũng chỉ là những phương tiện để hướng dẫn con người giác ngộ chân lý, chứ bản
thân văn tự không phải là chân lý. Trong Kinh
Ví dụ con rắn (Kinh Trung bộ),
Đức Phật tuyên bố: “Ta thuyết pháp như chiếc bè để vượt đưa qua, không phải để
nắm giữ lấy. Chư Tỷ-kheo, các ông cần hiểu ví dụ cái bè… Chánh pháp còn phải bỏ
đi, huống nữa là phi pháp.” [14] Bởi thế, đệ tử Phật cần thấu hiểu quan điểm
đó, không trở thành người lệ thuộc văn tự mà quên mất vai trò của bản thân. Nếu
vận dụng những giá trị từ văn học Pāli một cách hợp lý, chắc hẳn mỗi người đều
có thể tiến bộ trên con đường tu tập, chuyển hóa bản thân, giải phóng khỏi khổ
đau, tìm thấy sự an lạc trong đời sống…
6. Kết luận
Sau hơn hai
ngàn năm với những thăng trầm của lịch sử, chắc chắn chúng ta không dám khẳng
định rằng Tam tạng Thánh điển vẫn giữ được nguyên vẹn những lời dạy ban đầu của
Đức Thế Tôn, dù các văn bản ấy thuộc trường phái Phật giáo nào. Tuy nhiên,
trong nghiên cứu, học tập và thực hành giáo pháp của Đức Phật, có thể khẳng
định văn học Pāli là nguồn tư liệu quan trọng nhứt.
Với vai trò là
ngôn ngữ cổ ở bán đảo Ấn Độ và khá gần gũi với ngôn ngữ thời Đức Phật, tiếng
Pāli có khả năng chuyển tải nhiều nội dung về tư tưởng, văn hóa, xã hội… thời
bấy giờ. Mặt khác, sự hình thành từ một nguồn gốc là Thượng tọa bộ mang đến cho
văn điển Pāli một diện mạo thống nhứt, mạch lạc, trật tự. Qua đó, chúng ta có
thể tiếp cận một cách khá toàn diện về cuộc đời của một con người vĩ đại đã
bước khỏi sự trói buộc của thế gian, đạt an lạc tuyệt đối, rồi hướng dẫn nhân
loại bước chân theo. Ngoài ra, người đọc còn có thể hình dung về lịch sử hoằng
pháp của Đức Phật và Tăng đoàn, bối cảnh xã hội Ấn Độ đương thời, những khác
biệt về tư tưởng của Phật giáo và ngoại đạo…
Ngày nay, trong
xã hội hiện đại với nhiều biến động, Phật giáo càng chứng tỏ là con đường minh
triết để nhân loại soi sáng lại chính mình. Khi đó, giá trị của Thánh điển Pāli
càng tỏa sáng, vì giúp cho con người dễ dàng tiếp cận với những lời dạy của Đức
Thế Tôn từ cách đây trên hai ngàn năm, từ đó áp dụng vào tu tập và đời sống
thực tiễn. Bởi thế, việc nghiên cứu văn học Pāli cần tiếp tục phát huy, không
chỉ bởi cộng đồng Phật giáo, mà còn bởi những trí thức có quan tâm đến nền
triết học vượt thời gian nầy.
VĨNH THÔNG
(Bài đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Phật học, số 199, 2026)
CHÚ THÍCH:
1. Bhikkhu Bodhi (2005), In the Buddha's words, Wisdom
Publications, tr. 10.
2. K. R. Norman (1983), Pali literature, Otto Harrassowitz, tr.
2-3.
3. K. R. Norman (1983), Sđd, tr. 2-3.
4. Zhihua Yao (2009), The Buddhist theory of self-cognition, Routledge, tr. 9.
5. Người Sinhale là cộng đồng chính ở
đảo quốc Sri Lanka.
6. Steven
Collins (2003), “What is literature in Pali?”, trong Sheldon Pollock chủ biên, Literary cultures in history:
Reconstructions from South Asia, University of California Press, tr.
649-688.
7. Thích Giác Hoàng (2021), “Giới
thiệu khái quát Tam tạng Thánh điển Phật giáo Việt Nam”, Website Đạo Phật Khất Sĩ (www.daophatkhatsi.vn), 6/8/2021.
8. Tâm Thức (2019), “Giới
thiệu sơ lược kinh điển Pāli”, Website
Chùa Hoằng Pháp (www.chuahoangphap.com.vn), 29/04/2019.
9. Kinh
Trung bộ (2012), Tập I, Thích Minh Châu dịch, Nxb Tôn giáo, tr. 62.
10. H. Oldenberg (1997), Buddha: His life, His doctrine, His order,
Motilal Banarridass Publishers, tr.74.
11. Maurice
Winternitz (1993), History of Indian
Literature, Vol. II, Motilal Banarridass Publishers, tr.3.
12. Bhikkhu
Bodhi (2019), Hợp tuyển lời Phật dạy từ
Kinh tạng Pāli, Nguyên Nhật Trần Như Mai dịch, Nxb Hồng Đức, tr. 15.
13. S. C.
Banerji (2003), “Giới thiệu văn học kinh điển Pāli”, Giác Nguyên dịch, Website Buddha Sasana (www.budsas.org),
22/6/2003.
14. Kinh Trung bộ (2012), Tập I, Sđd, tr.
179.
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1. Bhikkhu
Bodhi (2005), In the Buddha's words,
Wisdom Publications.
2. Bhikkhu
Bodhi (2019), Hợp tuyển lời Phật dạy từ
Kinh tạng Pāli, Nguyên Nhật Trần Như Mai dịch, Nxb Hồng Đức.
3. H.
Oldenberg (1997), Buddha: His life, His
doctrine, His order, Motilal Banarridass Publishers.
4. Kinh Trung bộ (2012), Tập I, Thích Minh Châu dịch,
Nxb Tôn giáo.
5. K.
R. Norman (1983), Pali literature,
Otto Harrassowitz.
6. Maurice
Winternitz (1993), History of Indian
Literature, Vol. II, Motilal Banarridass Publishers.
7. Steven
Collins (2003), “What is literature in Pali?”, trong Sheldon Pollock chủ biên, Literary cultures in history:
Reconstructions from South Asia, University of California Press.
8. S.
C. Banerji (2003), “Giới thiệu văn học kinh điển Pāli”, Giác Nguyên dịch, Website Buddha Sasana (www.budsas.org),
22/6/2003.
9. Tâm
Thức (2019), “Giới thiệu sơ lược kinh điển Pāli”, Website Chùa Hoằng Pháp (www.chuahoangphap.com.vn), 29/04/2019.
10. Thích
Giác Hoàng (2021), “Giới thiệu khái quát Tam tạng Thánh điển Phật giáo Việt
Nam”, Website Đạo Phật Khất Sĩ (www.daophatkhatsi.vn),
6/8/2021.
11. Zhihua
Yao (2009), The Buddhist theory of
self-cognition, Routledge.
Comments[ 0 ]
Đăng nhận xét