24/11/22

Bản dịch mới văn bia Vĩnh Tế Sơn - Lâm Thanh Quang

Thể theo lời yêu cầu của các bạn, hôm nay tôi chính thức công bố bản dịch "Phụng đặc tứ danh Vĩnh Tế Sơn bi ký" hay còn gọi là văn bia Vĩnh Tế Sơn. Bản dịch này được tổng hợp từ bản của ông Trần văn Hanh do hội Nghiên Cứu Đông Dương xuất bản vào năm 1905 với tựa đề Inscription de la Montagne de Vinh-Te và bản văn bia Vĩnh Tế Sơn trên quyển Thoại Ngọc Hầu và những cuộc khai phá miền Hậu Giang do nhà xuất bản Hương Sen phát hành năm 1972 và nhà xuất bản Trẻ tái bản năm 2006. Trong hai bản của ông Trần Văn Hanh và ông Nguyễn Văn Hầu có một số chi tiết chưa chính xác do được chép bằng tay trong điều kiện không có đủ các phương tiện tiếp cận hiện đại như bây giờ. Tuy nhiên đây cũng là cơ sở cho người biên dịch tiếp tục hoàn thiện công trình của hai ông. Phần cuối bản dịch có phần chú giải để bạn dọc có thể hiều rõ thêm về hai bản dịch trên. Xin các bạn hãy góp ý những sai sót trong bản dịch với tinh thần học hỏi để cho bản dịch được hoàn chỉnh hơn. Xin cám ơn các bạn.

 

* PHIÊN ÂM HÁN VIỆT:

奉特賜名永濟山碑記

Phụng đặc tứ danh Vĩnh Tế sơn bi ký

坤靈秀氣凝結而潙山 人因而名之 其來尚矣

Khôn linh tú khí, ngưng kết (1) nhi vi sơn, nhơn nhân nhi danh chi, kỳ lai thượng hĩ.

或以勝槩 或以佳蹐 或以象 類或以邑 亦以昔人

Hoặc dĩ thắng khái, hoặc dĩ giai tích, hoặc dĩ tượng loại, hoặc dĩ ấp lý, diệc dĩ tích nhơn 

所登臨遊玩而名之 亦以高士所棲遲 (2) 隱逸而名之

sở đăng lâm du ngoạn nhi danh chi, diệc dĩ cao sĩ sở thê trì ẩn dật nhi danh chi, 

大抵俗傳韻語習 (3) 而稱呼耳

đại để tục truyền vận ngữ tập nhi xưng hô nhĩ.

其獲登瑤版 經睿鑒造嘉名 以旌殊 貺者鮮矣 

Kỳ hoạch đăng dao bản, kinh duệ giám, tạo gia danh, dĩ tinh (4) thù, huống giả tiên hĩ. 

而況遠界番陬 深居荒服者乎 

Nhi huống viễn giới Phiên tưu (5), thâm cư hoang phục dã hồ ?

朱篤地界古蠻畨區也 皇朝開拓南服 其地方

Châu Đốc địa giới cổ man Phiên khu dã. Hoàng triều khai thác nam phục, kỳ địa phương

入版圖 (6) 設屯營以控番國 屯之後有山曰杉 

nhập bản đồ, Nghiêm thiết đồn doanh dĩ khống Phiên quốc. Đồn chi hậu hữu sơn viết Sam 

山俗名也

Sơn tục danh dã.

林薮荒邈 蕕潙土人 獠之居 雖有奇景佳跡

Lâm tẩu hoang mạc, du vi thổ nhân, khách, Lão (7) chi cư. Tuy hữu kỳ cảnh giai tích, 

亦一幽巖亂石之堆阜爾 意者造物有待而後使之

diệc nhất u nham (8) loạn thạch chi đôi phụ nhĩ. Ý giả tạo vật hữu đãi, nhi hậu sử chi 

呈奇獻異歟

trình kỳ hiến dị dư ?

欽奉聖上經理封疆 嚴設屯守 臣瑞玉

Khâm phụng Thánh Thượng kinh lý phong cương, nghiêm thiết đồn thủ, thần Thoại Ngọc 

矦本領保護 (9) 藩邦 兼按守朱篤屯 經奉玉諭

Hầu bổn lãnh bảo hộ Phiên bang, kiêm án thủ Châu Đốc đồn, kinh phụng ngọc dụ.

文軌混同 關城晏閉 欲使莽蒼皆成閭閻 氓隷悉

Văn quĩ hỗn đồng, quan thành yến bế, dục sử mãng thương giai thành lư diêm, manh lệ tất 

潙編户桑蔴翳野煙火相望與寓縣並躋富殷之盛

vi biên hộ, tang ma ế dã, yên hỏa tương vọng, dữ ngụ huyện tịnh tê phú ân chi thạnh. 

臣受命衹勤 鳩民以立邑 乃相本地 (10) 壹路橫達

Thần thọ mạng kỳ cần, cưu dân dĩ lập ấp ; nãi tương bổn địa thế , nhất lộ hoành đạt 

雙雙長江壹路上至滀榮 壹路上至爐嶇 (11) 隨便

song song trường giang, nhất lộ thượng chí SốcVinh, nhất lộ thượng chí Lò Gò tùy tiện 

歸潙村落 開墾田園 雖未足以副萬分之 (12) qui vi thôn lạc,khai khẩn điền viên. Tuy vị

túc dĩ phó vạn phần chi nhất, nhi 

以今視昔則殊異矣

dĩ kim thị tích tắc thù dị hĩ.

艾蓬翦棘之後 白分石 綠孑竹捎 此山遂出色

Ngải bồng tiễn cức chi hậu, bạch phân thạch cước, lục kiết trúc sao, thử sơn toại xuất sắc, 

(13) 盤然特峙 闞清流而枕 (14) 峻岸 林圃遶其麓

yên bàn nhiên đặc trĩ. Hám thanh lưu nhi chẩm tuấn ngạn, lâm phố nhiễu kỳ lộc, lam 

卷炊煙 庙倚其嶺 (15) 香飄雲盎 庶幾中州風景矣

quyển xuy yên, tự miếu ỷ kỳ lãnh, hương phiêu vân áng, thứ cơ trung châu phong cảnh hĩ.

奉畫圖馳進 仰蒙睿照 以昔年臣奉董役 (16) 浚東

Phụng họa đồ trì tiến, ngưỡng mông duệ chiếu ; dĩ tích niên thần phụng đổng dịch tuấn Đông

川港道 既以臣爵名表港 傍之拉山曰瑞山 至是

Xuyên cảng đạo, ký dĩ thần tước danh biểu cảng bàng chi Sập Sơn viết Thoại sơn. Chí thị

又軫及臣心 能乘關雎之化 以齊其家 而臣妻朱氏

hựu chẩn cập thần tâm, năng thừa quan thư chi hóa, dĩ tề kỳ gia, nhi thần thê ChâuThị

名濟能化周南之德以勗其夫 靡盬之忱有少助 

danh Tế năng hóa Châu Nam chi đức dĩ nội trợ (17) kỳ phu, mi cổ chi thầm hữu thiểu trợ

遂以人名賜山名 潙永濟山

yên. Toại dĩ nhân danh tứ sơn danh, vi Vĩnh Tế sơn.

人以山標名而釵髻增光 皇澤之膏沐也 山以人得

Nhân dĩ sơn phiêu danh nhi thoa kế tăng quang, Hoàng trạch chi cao mộc dã ; sơn dĩ nhân đắc

號而草花生色 皇霑之滋潤也

hiệu nhi thảo hoa sinh sắc, hoàng triêm chi tư nhuận dã.

臣眼腦眺舒 心官默識 眞山遭逢之嘉會 而老

Thần nhãn não thiếu (18) thư, tâm quan mặc chí. Chân sơn vận tao phùng chi gia hội, nhi lão 

臣際遇之其緣 不然何以膺此寵靈也

thần tế ngộ chi kỳ duyên. Bất nhiên, hà dĩ ưng thử sủng linh dã ?

迨女果完 因解弢具 (19) (20) 以四大之遺 得就此山

Đãi nữ quả hoàn, nhân giải thao cụ, năng dĩ tứ đại chi di, đắc tựu thử sơn 

以阡焉

dĩ thiên yên.

地名其姓 山名其人 寄而表焉 歸而藏焉 頓覺三

Địa danh kỳ tánh, sơn danh kỳ nhân, ký nhi biểu yên, qui nhi tàng yên, đốn giác tam 

生之夙契 寔賴鴻造之有 成豈尋常之 (21) 榮異者哉

sanh chi túc khế, thiệt lại hồng tạo chi hữu thành, khởi tầm thường chi vinh dị giả tai ! 

至乃晨光散霚夕照飛霞 木笨簿以垂清草芊 (22)  

Chí nãi thần quang tán vụ, tịch chiếu phi hà, mộc bổn bộ dĩ thùy thanh, thảo thiên kì (23)

而鋪翠 塵清驛路 凭磴遙瞻 静練江流

nhi phô thúy, trần thanh dịch lộ, bằng đặng (24) diêu chiêm, luyện tịnh giang lưu, đình 

橈閒玩 指點相謂曰此特 攽賜名永濟山也.

nhiêu nhàn ngoạn, chỉ điểm tương vị viết : “Thử đặc ban tứ danh Vĩnh tế Sơn dã”.

然則山以人傳歟 人以山傳歟 曰是皇家高厚之 

Nhiên tắc sơn dĩ nhân truyền dư ? Nhân dĩ sơn truyền dư ? Viết thị Hoàng gia cao hậu chi 

悠久無疆也 臣謹記

ân, du cửu vô cương dã. Thần cẩn ký.

賜命九年 歲在戊子 著雍困敦 秋分 (25) 之候

Tứ mệnh cửu niên, tuế tại Mậu Tý, Trứ Ung Khốn (26) Đôn, thu phân chi hậu.

欽差統制按守朱篤屯 領保護高綿國印 兼管 

Khâm Sai Thống Chế Án Thủ Châu Đốc đồn, lãnh Bảo Hộ Cao Miên Quốc Ấn, kiêm quản 

河僊鎭邊務 加貳級紀綠四次 瑞玉候制

Hà Tiên trấn biên vụ, gia nhị cấp kỷ lục tứ thứ, Thoại Ngọc Hầu chế.

右舊黎朝中試 三河武氏承僎

Hữu cựu Lê triều trúng thí, Tam Hà Võ Thị thừa soạn, 

右舊黎朝員子蘇江阮鐘甫鐘侖承寫 

Hữu cựu Lê triều viên tử Tô Giang Nguyễn Chung Phủ thừa tả (27)

……… 雲雨承言 (28) 

……… Vân Vũ thừa ngôn.

(Phía trên chữ Vân Vũ còn vài chữ đã mờ không còn đọc được nữa).

 

* DỊCH NGHĨA:

Bài ghi chép về núi Vĩnh Tế do vua đặc biệt ban tên.

Đất linh khí tốt, ngưng kết lại thành núi. Con người nhân đó mà đặt tên, đến nay đã lâu đời.
Phải chăng vì phong cảnh đẹp, vì dấu tích hay, hoặc là hình tượng giống nhau, hoặc là cùng xóm ấp. Cũng có thể do người xưa đến đây du ngoạn hay là do những bậc cao sĩ đến đây ẩn dật mà đặt tên, để rồi dựa vào đó mà người đời gọi tên như vậy.

May được dâng lên bản ngọc, Vua xem qua ban cho tên tốt này để lưu danh, thật là chuyện hiếm có.

Nhưng ở nơi xa xôi hẻo lánh này còn hoang vu, không người khai phá. Vùng đất Châu Đốc ngày xưa thuộc quyền của nước Phiên (29). Triều đình chúng ta lúc mở mang bờ cõi về phía Nam mới cho nhập vào bản đồ, thành lập đồn doanh để khống chế nước Phiên, phía sau đồn là núi mà lời tục quen gọi là núi Sam.

Rừng cây đầm lầy hoang vắng, chỉ có người Cao Miên, người Hoa và người Chăm sinh sống. Tuy có cảnh đẹp tích hay, nhưng cũng chỉ là núi vắng, đá loạn, gò nông mà thôi. Chừng như là những vật được tạo ra sống ở đây, sau này được sử sách ghi lại như là một chuyện lạ chăng ?
Vâng lệnh nhà vua đi xem xét cõi bờ, lập đồn trấn giữ, thần là Thoại Ngọc Hầu giữ chức Bảo hộ Cao Miên, kiêm trấn giữ đồn Châu Đốc, vâng theo lời dạy.

Nền văn hóa đã cùng chung làm một, cửa thành đóng kín an vui, người dân được ấm no, khắp nơi làng mạc đồng lúa xanh tươi, dân lang thang có được nhà ở, phát quang cây cối để trồng dâu, dệt gai, khói lửa bốc lên, cùng với huyện kế bên sống sung túc đầy đủ.

Thần vâng lệnh vua siêng năng cần mẫn, họp dân lập ấp, một hướng song song với sông lớn, một hướng thẳng đến Sóc Vinh, một hướng ngay đến Lò Gò. Tùy theo địa thế mà họp lại thành làng xóm, khai khẩn ruộng vườn. Tuy muôn phần chưa vừa lòng được một, nhưng giờ nhìn lại đã thấy khác hẳn so với lúc xưa.

Từ ngày cỏ gai đã được dọn sạch, lộ ra nền đá ở chân núi trắng phao, núi này đã trở nên tươi đẹp, sừng sửng vươn lên. Ngắm dòng nước biếc vượt bờ cao, vườn cây bao quanh chân núi, khói cuộn giữa sương mù, chùa miếu tựa vào vách núi, hương tỏa mây lồng, thật không kém gì cảnh đẹp ở trung châu vậy !

Vâng lệnh vua vẽ họa đồ dâng lên, mong được soi xét. Năm trước thần phụng mạng trông nom việc đào kinh Đông Xuyên, vua đã lấy tước danh của thần đặt tên kinh bên cạnh tên của núi Sập đặt lại thành Thoại Sơn. Nay lại xét đến lòng của thần, siêng năng trong công việc. Vợ của thần là Châu thị Tế là người tài đức, lễ giáo, giúp chồng chăm lo việc nhà, ruộng nương để cho thần được yên tâm, nên vua ban tên cho núi Sam là Vĩnh Tế Sơn.

Người nhờ núi nêu tên mà trâm tóc vẻ vang, nhờ ơn vua gội rửa. Núi do người được vinh danh mà cỏ hoa tươi tốt, ơn vua càng thêm thấm nhuần.

Đầu óc thần được mở rộng tầm nhìn, hiểu biết về núi này được tăng lên, chừng như lão thần vừa gặp được duyên may. Nếu không, vì sao mà ngọn núi này linh thiêng như thế ?

Đến lúc vợ nhà (30) đã xong duyên nghiệp, rủ sạch buồn phiền, về nơi cõi khác thì hình hài sẽ được yên nghĩ nơi ngọn núi này.

Đất mang tên họ, núi mang tên người (31) “Sống gởi, thác về”. Thế mới biết duyên nợ ba sinh từ kiếp trước. Thật là nhờ vào hồng phúc tạo nên thành tựu này, há có phải tầm thường mà nhận được vinh dự này đâu.

Đến nay, sáng sớm sương tan, bóng chiều ráng rọi, cây cối rậm rạp tươi xanh, ngọn cỏ nhuộm màu xanh biếc, trên đường sạch bụi, lên cao ngắm về nơi xa, dòng sông uốn khúc như giải lụa trắng. Ngư ông buông chèo ngắm cảnh, chỉ về ngọn núi bảo nhau : “Kia là núi Vĩnh Tế do vua ban đó”.

Phải chăng ngọn núi do người mà lưu truyền lại ? Hay người nhờ núi mà được lưu danh ? Đó là nhờ ơn đức cao dày của Hoàng Gia ban cho, sâu thẳm khôn cùng vậy. Thần cẩn thận ghi chép lại.

Lệnh ban xuống vào năm thứ 9 (32) nhằm năm Mậu Tý, thuộc sao Trứ Ung và Khốn Đôn, tiết thu phân.

Khâm Sai Thống Chế Án Thủ Châu Đốc đồn, lãnh Bảo Hộ Cao Miên Quốc Ấn, Kiêm quản Hà Tiên Trấn Biên Vụ, được gia phong cấp bậc hàm Nhị Phẩm lần thứ tư (33) Thoại Ngọc Hầu làm ra.

Cựu thần triều Lê trúng tuyển (34) Võ Tam Hà giúp biên soạn.

Cựu thần triều Lê Tô Giang Nguyễn văn Phủ giúp viết ra.

……… Vân Vũ bàn bạc, góp ý.

 

* GHI CHÚ: 

(1) Trong bản Hán văn chữ gồm bộ mịch và chữ cát đọc là “kết”. Nếu đọc là kiết dễ lầm lẫn với chữ đọc là “kiết” theo âm miền Nam.

(2) Chữ “trì” () nghĩa là chậm chạp, thong thả không có bộ mộc như trong bản chép tay của ông Nguyễn Văn Hầu từ bản của Tú Tài Trần Hữu Thường. Trong bản in của hội Nghiên cứu Đông Dương về núi Vĩnh Tế Sơn (Publications De la Sosiété des Études Indo-Chinoises Inscription de la Montagne de Vinh-Te) xuất bản năm 1905 thì ghi là chữ cũng đồng nghĩa với chữ trên (không có bộ mộc).

(3) Trong bản chép lại của ông Nguyễn văn Hầu thiếu mất chữ “tập” này so với bản của hội Nghiên cứu Đông Dương in.

(4) Chữ trong bản Hán văn đọc là “tinh” chứ không thể đọc là “sanh”. 

(5) Chữ trong bản Hán văn đọc là “tưu” chứ không thể đọc là “tựu”.

(6) Trong bản của hội nghiên cứu Đông Dương ghi là “kinh” (), nhưng trong bản chép tay của ông Nguyễn Văn Hầu ghi là “nghiêm” () , theo nghĩa chọn chữ “nghiêm” chính xác hơn. 

(7) Chữ trong bản Hán văn đọc là “lão” chỉ dân tộc thiểu số còn lạc hậu . Ở đây Thoại Ngọc Hầu ám chỉ người Chăm sống ở An Giang có nguồn gốc từ miền Trung Việt Nam bị chúa Nguyễn đánh đuổi chạy sang Chân Lạp. Do đụng chạm với người Chân Lạp nên họ bị đàn áp dã man. Sau đó họ theo Nguyễn Cư Trinh về định cư tại An Giang. Người Lào chưa từng sống ở vùng An Giang. Thoại Ngọc Hầu đã từng đi sứ sang Lào (còn gọi là Lão Qua) nên rất rõ điều này.

(8) Chữ trong bảng Hán văn đọc là “nham” chứ không đọc là “tòng”.

(9) Trong bản chép tay của ông Nguyễn Văn Hầu ghi rõ Thần Thoại Ngọc Hầu bổn lãnh…
(臣瑞玉矦本領保護) nhưng trong bản của hội nghiên cứu Đông Dương thiếu mất chữ Hầu còn chữ lại thay bằng chữ “phụng” .

(10) Chữ “thế” trong văn bia là chữ Nôm chứ không phải chữ như trong sách đã ghi. Chữ Nôm này ngày nay ít được dùng. 

(11) Sóc Vinh và Lò Gò là tên địa danh bằng chữ Nôm. Tên chữ Hán của Lò Gò là Lô Khu. Nếu dùng chữ này thì không ai biết được.

(12) Trong bản của hội Nghiên Cứu Đông Dương thiếu chữ “chi” ()so với bản chép tay của ông Nguyễn Văn Hầu.

(13) Trong bản chép tay của ông Nguyễn Văn Hầu không có chữ “yên” ()như trong bản của hội Nghiên Cứu Đông Dương.

(14) Trong bản của hội Nghiên Cứu Đông Dương ghi là “chẩm” (), nhưng trong bản chép tay của ông Nguyễn Văn Hầu lại ghi là “án” ().

(15) Trong bản của hội Nghiên Cứu Đông Dương ghi là “lãnh” () nhưng trong bản chép tay của ông Nguyễn Văn Hầu lại là “điên” . Hai chữ này đồng nghĩa như nhau.

(16)Trong bản chép tay của ông Nguyễn văn Hầu là chữ “dịch” () trong khi bản của hội Nghiên Cứu Đông Dương ghi là chữ “hậu” () . Theo nghĩa thì chữ “dịch” đúng hơn chữ “hậu”.

(17) Chữ đọc là “trợ” chứ không phải là “húc”

(18) Chữ trong bản Hán văn đọc là “thiếu” chứ không đọc là “diêu”.

(19) Trong bản chép tay của ông Nguyễn Văn Hầu ghi là “thao cụ” (弢具) chính xác hơn chữ “bị tổ” (被祖) không có nghĩa trong bản của hội Nghiên Cứu Đông Dương.

(20) Chữ “năng” () trong bản chép tay của ông Nguyễn Văn Hầu chính xác hơn là chữ “hóa” () trong bản của hội Nghiên Cứu Đông Dương.

(21) Trong bản của hội Nghiên Cứu Đông Dương không có chữ “chi” () này.

(22) Chữ “thiên” () trong bản chép tay của ông Nguyễn Văn Hầu chính xác hơn chữ “can” (竿) bản của hội Nghiên Cứu Đông Dương.

(23) Chữ trong bản Hán văn đọc là “kì” chứ không đọc là “miên”.

(24) Chữ trong bản Hán văn đọc là “đặng” chứ không đọc là “đẳng”.

(25) Trong bản của hội Nghiên Cứu Đông Dương không có chữ “phân” () này.

26) Chữ trong bản Hán văn đọc là “khốn” chứ không đọc là “khổn”.

(27) Những chữ (Hữu cựu Lê triều viên tử Tô Giang Nguyễn Chung Phủ thừa tả) trên bản của chép tay của ông Nguyễn Văn Hầu không có do nét chữ đã mờ không đọc được. Do bản của hội Nghiên Cứu Đông Dương chép trước nên mới thể hiện được những chữ này.

(28) Còn vài chữ trên chữ “Vân Vũ thừa ngôn” đã bị mờ không thể nhận ra được. Trước đây do chụp bằng máy ảnh cơ nên không thấy rõ nét. Hiện nay nhờ chụp bằng máy ảnh số về phóng đại lên nên mới nhìn rõ chữ.

(29) Chữ “Phiên” chỉ nước Cao Miên đang lệ thuộc vào Việt Nam.

(30) Từ “đãi nữ” ám chỉ vợ của Thoại Ngọc Hầu là bà Châu thị Tế chứ không chỉ phụ nữ chung chung.

(31) Ở đây Thoại Ngọc Hầu cho rằng từ Châu Đốc là lấy họ Châu của bà Châu thị Tế nhưng thật ra đây là một từ Khmer đã được Việt hóa.

(32) Năm thứ 9 của vua Minh Mạng là năm 1828 (Mậu Tí theo âm lịch).

(33) Sau khi đào kinh Vĩnh Tế Nguyễn Văn Thoại được vua phong chức Ngọc Hầu nên có tên là Thoại Ngọc Hầu, ngạch Chánh nhị phẩm.

(34) Trong bản của hội Nghiên cứu Đông Dương ghi đầy đủ những chữ mà trong bản chép tay của ông Nguyễn Văn Hầu còn thiếu chức vị của những thư lại đã giúp việc soạn thảo văn bia này. Chỉ thiếu có 4 chữ “…Vân Vũ thừa ngôn” mà trên văn bia còn giữ lại được. Nhờ máy ảnh kỹ thuật số có độ phân giải cao mới đọc được 4 chữ này.

Những chữ phiên âm đã được hiệu chỉnh lại khi đối chiếu với bản phiên âm trong quyển sách “Thoại Ngọc Hầu và những cuộc khai phá miền Hậu Giang” của ông Nguyễn Văn Hầu do nhà xuất bản Hương Sen năm 1972 và nhà xuất bản Trẻ tái bản vào năm 2006. Có một số chữ sai lệch về phiên âm, và chữ Hán vì trên bia có một số từ ghi bằng chữ Nôm chứ không phải là chữ Hán. Ngoài ra tại thời điểm xuất bản tạp chí Hương Sen, bản chữ Hán được viết bằng tay nên đôi lúc chữ nhìn không rõ nét. Lần tái bản sau mặc dầu được số hóa nhưng không sao tránh khỏi một vài sai sót cần phải hiệu chỉnh lại. Một tài liệu khác để tham khảo trong bài viết này là ấn phẩm của hội Nghiên cứu Đông Dương (Publication de la Société des Études Indo-Chinoises) bản chữ Hán do ông Trần Văn Hanh dịch và chữ Pháp với tựa đề Inscription de la Montagne de Vinh-Te in tại Sài Gòn năm 1905. Sau khi dịch bản này mới biết rằng người Pháp đã sao chép và dịch tài liệu về bia Vĩnh Tế Sơn này trước ông Nguyễn Văn Hầu 50 năm và được lưu trữ tại viện Viễn Đông Bác Cổ Sài Gòn. Sau này nó được lưu trữ tại Trung tâm Lưu Trữ Quốc Gia 2 tại TP Hồ Chí Minh. Hai bản này đều là chép tay từ bản của Tú Tài Trần Hữu Thường. Nhờ đối chiếu qua 2 bản dịch này tôi mới hiệu chỉnh lại những chỗ chưa chính xác do chép tay từ bản này sang bản khác. Ngoài ra còn có hiệu chỉnh lại một số nội dung qua việc khảo sát bia văn trên bia Vĩnh Tế Sơn tại lăng Thoại Ngọc Hầu phường núi Sam, thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.

 

Biên dịch xong ngày 15 tháng 12 năm 2016

Người dịch: LÂM THANH QUANG


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét