8/9/23

Chuyển đổi tín ngưỡng Arak của người Khmer Tây Nam Bộ - Vĩnh Thông

1. Đặt vấn đề

Người Khmer là một trong những tộc người cư trú đông đảo ở đồng bằng sông Cửu Long với nền văn hóa phong phú. Trong hệ thống tín ngưỡng tôn giáo, ngoài tôn giáo chính là Phật giáo Nam truyền, họ có nhiều hình thái tín ngưỡng dân gian đa dạng. Các thần linh được sùng bái đa phần có nguồn gốc từ văn hóa bản địa hoặc ảnh hưởng từ văn hóa Ấn Độ như Neak Ta, Rea Hu, Tevoda, Preach Khe, Neang Khmau… trong đó, tục thờ cúng Neak Ta được xem là điển hình. Tuy nhiên, người Khmer có một đối tượng tín ngưỡng khác, ngày nay hầu như không còn được thế hệ trẻ biết đến, đó là Arak. Tín ngưỡng nầy gắn liền với nghi lễ nhập đồng được gọi là Pleng Arak và người nhập đồng được gọi là Rup Arak. Nếu các thần linh nêu trên đã trở nên quen thuộc với những ai quan tâm tìm hiểu văn hóa Khmer, thì Arak là đối tượng tín ngưỡng rất ít được nghiên cứu.

Tín ngưỡng Arak có thời gian dài tồn tại song hành cùng tín ngưỡng Neak Ta, thậm chí trước nay không ít người thường lẫn lộn giữa hai thần linh nầy, cho rằng Arak là một hình thức của Naek Ta. Tuy nhiên, qua thời gian với sự vận động của văn hóa Khmer, tục thờ cúng Arak có xu hướng suy thoái và đứng trước nguy cơ biến mất, bởi vì nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan khác nhau. Song song với quá trình đó là sự chuyển đổi đức tin của người Khmer từ Arak sang Neak Ta. Nghiên cứu nầy tập trung phân tích về hai loại hình tín ngưỡng trên, mối quan hệ với nhau và quá trình chuyển đổi đức tin của cộng đồng Khmer.


2. Niềm tin và thực hành tín ngưỡng Arak

2.1. Quan niệm về Arak

Arak là tín ngưỡng bản địa của người Khmer ở Cambodia có từ thời kỳ tiền Phật giáo. Đến lúc Phật giáo du nhập vào Cambodia thế kỷ XII rồi về sau trở thành quốc giáo, việc thờ cúng Arak vẫn tiếp tục tồn tại. Khi di cư xuống châu thổ hạ lưu sông Mekong, họ mang theo hệ thống tín ngưỡng tôn giáo, trong đó có Arak và duy trì suốt nhiều thế kỷ trên vùng đất mới.

Trong những công trình nghiên cứu về văn hóa Khmer ở Việt Nam trước nay, Arak thường ít được nhắc đến, hoặc nếu có cũng chỉ điểm qua sơ lược. Do đó, việc tìm kiếm thông tin đầy đủ về đối tượng tín ngưỡng nầy - dù qua tư liệu sơ cấp hay thứ cấp - đều khó khăn. Nhìn chung, các quan niệm về Arak có thể tạm chia thành hai nhóm chính như sau:

 (1) Arak là bà tổ trong dòng họ mẫu hệ, chết bất đắc kỳ tử và hiển linh. Theo quan niệm nầy, “Arak có nghĩa là ma quỷ, là thần tổ của dòng họ bảy đời… có chức năng bảo hộ gia đình trừ tà ma hại người trong dòng họ. Arak là một nhân thần thuộc phái nữ đã chết” [Nguyễn Công Bình & Lê Xuân Diệm & Mạc Đường 1990: 229].

(2) Arak là thần trong thế giới tự nhiên, bảo vệ và chi phối đời sống cộng đồng. Nguyễn Xuân Nghĩa [1979: 47] cho biết, phần đông người Khmer vùng đồng bằng sông Cửu Long hiểu Arak là thần hoặc ma quỷ không có hình dáng rõ rệt, nhưng cũng có quan niệm cho rằng Arak là thần bảo vệ, thần giữ gìn…

Kế thừa và tổng hợp từ hai nhóm ý kiến trên, những nghiên cứu sau nầy cho rằng Arak vừa có thể là nhân thần lẫn nhiên thần. Định nghĩa của Viện Văn hóa [1993: 51] viết: “Arak tượng trưng cho vị thần bảo hộ của giòng họ, một loại thần không có hình dáng, biểu hiện rõ rệt và tính chất thiện, ác cũng khó phân biệt. Có thể là một người nào đó trong dòng họ chết từ lâu nhưng linh thiêng nên được tôn là thần và được các gia đình trong dòng họ thờ cúng nhờ bảo hộ.”

Arak có nhiều loại như Arak chou buo (Arak của dòng họ), Arak phum (Arak của phum), Arak veal (Arak ruộng rẫy), Arak preay (Arak giữ rừng), Arak phteah (Arak nhà cửa)… Trong đó, Arak chou buo được xem là quan trọng nhứt, mỗi dòng họ có thể thờ cúng nhiều Arak, ngược lại một Arak có thể được thờ cúng bởi nhiều dòng họ. Những gia đình ó cùng một bà tổ tính theo dòng họ mẹ đều thờ cúng chung một Arak chou buo.

Dù là nhân thần hay nhiên thần thì trong quan niệm của người Khmer, Arak vẫn là thần linh không có lai lịch rõ ràng, không hình tướng, không được thể hiện bằng biểu tượng hay hình ảnh nào cụ thể. Arak có tính chất thiện ác không rạch ròi, vừa có thể bảo vệ con người, nhưng sẵn sàng quở phạt những người nào tỏ thái độ không tôn kính. Người Khmer tin rằng Arak có thể quở phạt khiến họ gặp xui xẻo, đau bịnh, tai nạn…

2.2. Nghi lễ Pleng Arak

Gắn liền với tục thờ cúng Arak là nghi lễ nhập đồng, được gọi là Pleng Arak, cũng gọi là Chôl Arak. Người Khmer xưa, mỗi khi gặp khó khăn trong cuộc sống như bịnh tật hay mất mùa, thường tổ chức Pleng Arak. Ngoài những lúc hữu sự, một số nơi còn tổ chức nghi lễ nầy định kỳ mỗi năm hoặc ba năm một lần.

Người nhập đồng được gọi là Rup Arak, có vai trò trung gian cho Arak nhập vào để giao tiếp với thế giới trần tục, giải đáp những thắc mắc mà dân chúng muốn cầu hỏi. Rup có thể là nam hoặc nữ, nhưng đa phần là nữ. Người làm Rup thường do cha truyền con nối hoặc mẹ truyền con nối. Bên cạnh Rup còn có thêm một thầy cúng, thông thạo nghi lễ, được gọi là Krou Teay.

Lễ vật được dâng cúng thường đơn giản, đa phần là những món ăn gần gũi với đời sống hằng ngày của người Khmer như đầu heo, gà luộc, vịt luộc, trái dừa, nải chuối, trầu, rượu, bánh bò, bánh hỏi… Song, tùy theo vị Arak nào được cầu cúng mà lễ vật có đôi chút khác biệt để phù hợp “sở thích” của Arak đó. Ngoài thức ăn còn một số vật phẩm đặc trưng của văn hóa Khmer như slachôm, slathô, baisei… [Tư liệu điền dã 2017]

Diễn biến nghi lễ Pleng Arak về cơ bản theo trình tự cố định. Đầu tiên, chủ lễ đốt nhang đèn khấn vái, rồi dàn nhạc trỗi nhạc và cất lời hát thỉnh Arak về. Đó là dàn nhạc dân gian truyền thống của người Khmer, với khoảng năm người chơi các nhạc cụ như trống, kèn, đờn… và một người hát. Trong lúc đó, những người dân xung quanh cùng hò reo và vỗ tay như một hình thức “cổ vũ”.

Khi Arak nhập vào, đầu tiên Rup sẽ nhảy múa, sau đó người dân bắt đầu hỏi những vấn đề mình thắc mắc để Arak giải đáp. “Người lên đồng lúc đó uốn éo, có nhiều hành động khác thường như uống nước liên tục, ngậm rượu phun vào người bệnh… và nói những câu đặc biệt để chữa bệnh hoặc nói với chủ nhà phải làm một số điều gì đó thì bệnh mới khỏi được” [Trần Văn Bính chủ biên 2004: 179]. Cuối cùng, sau khi cuộc hỏi đáp hoàn tất, Arak xuất khỏi Rup và Rup không còn nhớ những gì vừa xảy ra trước đó.

Ngoài lễ cúng, người Khmer còn thờ Arak trong khuôn viên nhà ở, lập miếu Arak trong phạm vi phum srok. Không những vậy, đối với giới bùa chú, Arak là một trong những đối tượng tín ngưỡng được các pháp sư thờ cúng để tăng thêm quyền năng. “Theo lời các vị pháp sư, linh hồn Arak sẽ thừa hành theo lệnh của họ, giúp họ đạt được ý nguyện đề ra” [Nguyễn Khắc Cảnh & Lê Huyền Trang 2014].


3. Mối quan hệ giữa tín ngưỡng Arak và Neak Ta

Ngoài Phật giáo Nam truyền là tôn giáo chính, trong hệ thống tín ngưỡng dân gian của người Khmer, Neak Ta có thể được xem là thần linh quan trọng nhứt. Đây là danh xưng chung dành cho những phúc thần bảo hộ cộng đồng trong đời sống hằng ngày, chức năng tương tự Thành Hoàng của người Việt hay Ông Bổn của người Hoa. Khi thờ cúng, Neak Ta thường được biểu trưng bằng hòn đá, hoặc tranh, tượng… Neak Ta và Arak có một vài điểm cơ bản giống nhau khiến không ít người nhầm lẫn giữa hai thần linh nầy, song bên cạnh đó cũng có những khác biệt.

Về nguồn gốc, người Khmer cho rằng Arak là thần linh xuất hiện trước và cổ xưa hơn Neak Ta, do vậy trong nghi lễ, họ thường khấn vái “Arak - Neak Ta” chứ không phải “Naek Ta - Arak” [Tư liệu điền dã 2017]. Arak mang những đặc điểm của vật linh giáo (animisim) là niềm tin của con người về sự tồn tại linh hồn trong vạn vật. Neak Ta thể hiện những đặc trưng của bái vật giáo (fetishism), ở đó con người đặt niềm tin và thờ cúng thần linh thông qua một vật thể nhứt định. Như vậy so với Neak Ta, Arak chưa được biểu hiện bằng hình thức vật thể. Ngoài ra, cả hai hình thái nầy có yếu tố ma thuật giáo (shamanism) là hình thức giao tiếp giữa thế giới thiêng và phàm thông qua người trần tục làm đại diện. Song, hình thức ma thuật thể hiện rõ và mang tính chất bắt buộc ở tín ngưỡng Arak, tín ngưỡng Neak Ta thỉnh thoảng có hình thức ma thuật nhưng vai trò không quan trọng.

Ở một góc nhìn khác, khi đặt hai loại hình tín ngưỡng trong bối cảnh lịch sử - xã hội Khmer, Nguyễn Xuân Nghĩa [1987: 118] nhận định: “Arak là tàn dư của sự thờ cúng totem trong thị tộc mẫu hệ mà dấu vết là vai trò đặc biệt quan trọng của Arak nữ […]. Còn Neak Ta là tín ngưỡng của công xã láng giềng, khi các thành viên trong công xã không còn quan niệm về một tổ tiên chung nên đã tôn người đứng đầu công xã hay người có công làm thần bảo hộ công xã.”

Về quy mô và tính chất, nếu cúng Neak Ta để cầu mong thời tiết thuận lợi, mùa màng tươi tốt, con người khỏe mạnh… thì cúng Arak chủ yếu để chữa bịnh và phạm vi gói gọn trong gia đình hay dòng họ. Như một nghiên cứu từng nhận định: “Thần trong tín ngưỡng Neak Ta được khái quát cao hơn, có địa vị lớn và do đó phát huy ảnh hưởng phạm vi rộng. Nếu ảnh hưởng của Arak trong phạm vi gia đình, giòng họ, thì ảnh hưởng của Neak Ta trong phạm vi xã hội rộng lớn và giải quyết những chuyện của cả cộng đồng phum, sóc… có nghĩa là mỗi khi có hạn hán, đe dọa mất mùa, địch họa xẩy ra, người ta phải cầu cúng Neak Ta, còn khi gia đình có người bệnh, người ta cầu cúng Arak” [Viện Văn hóa 1993: 53-54].

Điều hết sức thú vị là, cả Arak và Neak Ta đều để lại dấu ấn tương đối sâu đậm trong văn hóa người Việt ở Tây Nam Bộ, không chỉ qua những miễu thờ, mà còn nhiều biểu hiện khác. Đơn cử trường hợp lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam, qua khảo sát văn tế, Huỳnh Quốc Thắng [2003: 127] nhận thấy trong nội dung đã cung thỉnh nhiều thần thánh của người Chăm, Khmer và Hoa như Chúa Ngung Man Nương, Thạch Trụ Cô Nương, Nặc Tà Á Rặc, Thiên Hậu Thánh Mẫu, Khổng Tử, Thất Vị Thánh Mẫu, Tứ Vị Thánh Nương, Nhị Vị Công Tử… để “đồng lai phối hưởng”.


4. Hiện tượng giáng cấp và tăng quyền văn hóa

Từ thập niên 1960, tục thờ cúng Arak ở đồng bằng sông Cửu Long bắt đầu suy yếu. Đặc biệt sau năm 1975, tín ngưỡng nầy dần mai một, ngày nay rất ít người biết đến. Khi niềm tin vào Arak giảm dần thì Neak Ta với vai trò là thần bảo hộ cộng đồng được người Khmer càng lúc càng tin tưởng hơn. Nhiều yếu tố trong tín ngưỡng Arak, từ đức tin đến thực hành nghi lễ, được chuyển đổi sang tín ngưỡng Neak Ta [Tư liệu điền dã 2017]. Với quá trình đó, tín ngưỡng Arak xảy ra hiện tượng giáng cấp văn hóa, đồng thời tín ngưỡng Neak Ta xảy ra hiện tượng tăng quyền văn hóa.

Trước đây, ngoài việc mỗi dòng họ thờ cúng Arak chou buo, thì nhiều gia đình có thờ cúng Arak phteah trong khuôn viên nhà ở. Hình thức có thể là khánh thờ nhỏ trên vách nhà hoặc miễu thờ nhỏ trước sân nhà. Trong phạm vi phum sork cũng có miễu Arak ở ven đường với quy mô lớn nhỏ khác nhau. Ngày nay, thờ cúng Arak ở gia đình gần như đã mất hẳn, miễu Arak của phum srok cũng không còn và phần lớn chuyển thành miễu Neak Ta.

Thực hành nghi lễ cũng rơi vào hoàn cảnh tương tự. Chẳng hạn trước năm 1975, người Khmer ở hai huyện Tri Tôn và Tịnh Biên của tỉnh An Giang thường tổ chức Pleng Arak và thu hút đông đảo người tham dự [Nhiều tác giả 2013: 847-848]. Ngày nay, người Khmer vẫn giữ niềm tin vào Arak, nhưng nghi thức Pleng Arak gần như mất hẳn. Việc cúng bái Arak chỉ diễn ra đơn giản, thường được lồng ghép vào lễ cúng Neak Ta của phum sork, hoặc lồng ghép trong các lễ cúng của gia đình.

Sở dĩ có hiện tượng nầy, nguyên nhân đầu tiên bắt nguồn từ thực tiễn đời sống. Arak được thờ cúng với chức năng chủ yếu là chữa bịnh và ảnh hưởng ở phạm vi dòng họ. Trong xã hội còn khó khăn, khi cư dân đương đầu với bịnh tật hay những bất trắc nào đó ở vùng đất mới, họ tìm đến thần linh. Khi đời sống nâng cao, sự phát triển của y tế dễ dàng đẩy lùi bịnh tật một cách nhanh chóng và hiệu quả, không cần phải cúng kiếng rườm rà. Từ đó, quan niệm của người Khmer dần thay đổi, họ cho rằng không cần thiết thờ cúng Arak như trước nữa.

Bên cạnh đó là nguyên nhân ở khía cạnh tâm linh khi xem xét hai thần linh qua cái nhìn của người Khmer. Về biểu hiện, Neak Ta có biểu tượng cụ thể (hòn đá, tượng, tranh…), trong khi Arak “vô hình vô tướng”. Người Khmer cảm nhận rằng họ có thể “hình dung” được phần nào về Neak Ta, trong khi với Arak thì không. Về tính chất, Arak có tính chất thiện ác không phân biệt rõ ràng, vừa giúp đỡ con người nhưng có thể quở phạt con người nếu bất kính. Bởi thế, dù người Khmer thờ cúng Arak nhưng lo sợ có lúc bị Arak quở phạt, họ không cảm thấy thật sự an toàn. Ngược lại, họ thường xem Neak Ta như vị phúc thần luôn mang đến sự tốt lành, nên gần như hoàn toàn tin tưởng (dù Neak Ta vẫn có lúc quở phạt nhưng rất hiếm). Về chức năng, trong quan niệm của người Khmer, Arak mang một số chức năng có ảnh hưởng trong phạm vi nhỏ, còn Neak Ta là thần linh đa chức năng và ảnh hưởng khắp mọi nơi. Niềm tin vào Arak càng giảm, niềm tin vào Neak Ta càng tăng, khi đó chức năng của Neak Ta càng mở rộng và bao trùm những chức năng trước đây vốn thuộc về Arak.

Ngoài ra, chánh sách quản lý văn hóa của Việt Nam sau năm 1975 đã tác động mạnh mẽ đến tục thờ cúng Arak. Những cán bộ làm công tác quản lý cho rằng nghi lễ Pleng Arak là hành vi mê tín dị đoan, một mặt vừa tuyên truyền vận động người Khmer từ bỏ, mặc khác vừa cấm đoán bài trừ. Người Khmer phải thực hiện nghi lễ nầy một cách lén lút và đến tận ngày nay vẫn còn giữ thái độ dè dặt khi được hỏi về Arak [Tư liệu điền dã 2017]. Theo nghiên cứu của Hoàng Cầm và Phạm Quỳnh Phương [2012: 73-74], cách nhìn nhận về sự đa dạng văn hóa ở Việt Nam theo tiến hóa luận trong thời gian dài, văn hóa của tộc người thiểu số bị quy chiếu theo tiêu chuẩn của tộc người đa số, nhiều thực hành văn hóa truyền thống bị định hướng theo nhận thức của những người làm quản lý. Người dân phải từ bỏ nhiều thực hành văn hóa “mê tín dị đoan”, đặc biệt là các hoạt động liên quan đến bùa chú và thế giới thần linh.


5. Kết luận

Những hình thức ma thuật của các tộc người thiểu số nói chung, tục thờ cúng Arak của tộc người Khmer nói riêng, không hẳn là hành vi “mê tín dị đoan” như đánh giá của các cơ quan quản lý văn hóa ở Việt Nam suốt thời gian dài. Trái lại, đó là giải pháp tâm lý kết hợp các phương thức trị liệu dân gian, thể hiện tri thức bản địa và đặc trưng văn hóa tộc người.

Ở góc độ cá nhân, người Khmer gởi gắm niềm tin vào Arak để xử lý những bất an trong đời sống thường ngày. Ở góc độ cộng đồng, tín ngưỡng Arak và nghi lễ Pleng Arak là môi trường sinh hoạt để cư dân gắn kết nhau trong cuộc sống, củng cố sự ổn định của xã hội. Đặc biệt, tục thờ cúng Arak được tích hợp với nhiều giá trị trong văn hóa dân gian, trở thành nơi tái hiện và truyền lưu những truyền thống của tổ tiên.

Ngày nay, tục thờ cúng Arak đã suy yếu do nhiều nguyên nhân chủ quan lẫn khách quan khác nhau. Niềm tin của cư dân Khmer vào Arak dần chuyển sang Neak Ta, khiến Arak giờ đây chỉ còn là một thần linh mơ hồ trong ký ức xa xưa và Naek Ta trở thành thần linh quan trọng hàng đầu trong tín ngưỡng dân gian Khmer. Tuy nhiên, nếu bỏ qua những yếu tố giảm giá trị trong xã hội hiện đại, tín ngưỡng Arak và nghi lễ Pleng Arak có thể được bảo tồn như di sản văn hóa phi vật thể độc đáo của cộng đồng Khmer Tây Nam Bộ.

 

VĨNH THÔNG

(Bài in trong Kỷ yếu Hội thảo quốc tế: Triết lý nhân sinh của người dân Nam Bộ, Tập 1: Văn hóa nhận thức và tôn giáo tín ngưỡng, Nxb Đại học Cần Thơ, 2018 & in trong sách Phong vị Nam Hà, Nxb Tổng hợp TP.HCM, 2024)

_______________________
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1. 
Hoàng Cầm & Phạm Quỳnh Phương (2012), Diễn ngôn, chính sách và sự biến đổi văn hóa - sinh kế tộc người, Viện Nghiên cứu Xã hội, Kinh tế và Môi trường.
2. Huỳnh Quốc Thắng (2003), Lễ hội dân gian của người Việt ở Nam Bộ, Nxb Văn hóa Thông tin.
3. Nguyễn Công Bình & Lê Xuân Diệm & Mạc Đường (1990), Văn hoá và cư dân đồng bằng sông Cửu Long, Nxb Khoa học Xã hội.
4. Nguyễn Khắc Cảnh & Lê Huyền Trang (2018), “Hiện tượng bùa chú của người Khmer Nam Bộ dưới góc nhìn tri thức bản địa”, Website Văn học nước ngoài (www.breadandrose.com), 28/3/2018.
5. Nguyễn Xuân Nghĩa (1979), “Tàn dư các tín ngưỡng Arak và Neak Ta ở người Khmer đồng bằng sông Cửu Long”, Tạp chí Dân tộc học, số 3.
6. Nguyễn Xuân Nghĩa (1987), “Lễ hội nông nghiệp cổ truyền ở người Khơme vùng đồng bằng sông Cửu Long”, Tạp chí Văn hóa dân gian, số 4.
7. Nhiều tác giả (2013), Địa chí An Giang, Sở Thông tin Truyền thông An Giang.
8. Trần Văn Bính chủ biên (2004), Văn hoá các dân tộc Tây Nam Bộ - thực trạng và những vấn đề đặt ra, Nxb Chính trị Quốc gia.
9. Viện Văn hóa (1993), Văn hóa người Khmer vùng đồng bằng sông Cửu Long, Nxb Văn hóa dân tộc.


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét