1.
Lời mở
Trịnh Bửu Hoài (1952 - 2022) là nhà văn, nhà thơ, nhà biên khảo (sau đây gọi chung là nhà văn) ở tỉnh An Giang. Với 56 năm cầm bút (1966 - 2022), qua hai giai đoạn trước và sau năm 1975, ông đã xuất bản 63 đầu sách ở nhiều thể loại. Song song đó, tham gia công tác quản lý văn học nghệ thuật từ khá sớm và thời gian dài, ông có nhiều đóng góp cho sự phát triển của lãnh vực nầy ở địa phương. Nhìn lại chặng đường 50 năm phát văn học nghệ thuật An Giang sau khi đất nước thống nhất (1975 - 2025), chúng ta không thể không nhắc đến vai trò quan trọng của nhà văn Trịnh Bửu Hoài, như một trong những “cánh chim đầu đàn”.
2.
Đôi nét về cuộc đời nhà văn Trịnh Bửu Hoài
Trịnh
Bửu Hoài sanh ngày 16/5/1952 tại làng Mỹ Đức, tổng Châu Phú, quận Châu Phú,
tỉnh Châu Đốc (hiện nay là xã Mỹ Đức, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang). Ông xuất
thân trong gia đình nông dân có đông con, tuy vậy cha mẹ rất quan tâm việc học
hành của con cái. Từ nhỏ ông đã bộc lộ niềm đam mê sách bút, cha mẹ dù khó khăn
nhưng thương con nên chắt chiu mua từng cuốn vở, từng cây viết cho con [Trịnh
Bửu Hoài 1998:
56-57].
Sau
khi học bậc Sơ học và Tiểu học ở trường làng, Trịnh Bửu Hoài học bậc Trung học
đệ nhất cấp (tương đương Trung học cơ sở ngày nay) ở thị xã Châu Đốc. Năm 1969,
ông đến thị xã Long Xuyên tiếp tục học bậc Trung học đệ nhị cấp (tương đương
Trung học phổ thông ngày nay). Do tình hình chiến sự căng thẳng, việc học tập
của ông bị tác động không nhỏ.
Năm
1966, từ đam mê văn chương, ông bắt đầu sáng tác thơ và gởi cộng tác một số báo
ở Sài Gòn, khi đó ông mới 14 tuổi. Lúc ấy, phong trào sáng tác văn thơ trong
học đường khá rầm rồ, dù phần lớn đều tự phát. Các học sinh tập hợp thành lập thi văn đoàn (tương tự cách gọi bút nhóm ngày nay) và thực hiện những
tập san văn thơ với hình thức in ronéo, in typo [Trịnh Bửu Hoài 1998: 62-64]. Trịnh
Bửu Hoài cũng tham gia phong trào nầy, thực hiện tập san Khai hoang (1967) và Đối diện
(1968) ở Châu Đốc, Khuynh hướng (1970)
ở Long Xuyên.
Năm
1968, ông gặp gỡ và kết giao với cây bút đồng hương đàn anh là nhà thơ Ngô
Nguyên Nghiễm, bấy giờ đang học tập ở Sài Gòn và về thăm Châu Đốc. Được lời
mời, năm 1969, ông tham gia Ban Chủ biên tạp chí và nhà xuất bản Khai phá do thi sĩ họ Ngô chủ trương [Ngô Nguyên Nghiễm 2022]. Năm 1974, Khai phá xuất bản hai tập thơ đầu tiên
của Trịnh Bửu Hoài là Thơ tình và Người hành hương tình yêu, được bạn đọc
trẻ yêu thích.
Năm
1975, hoàn cảnh xã hội thay đổi, việc sáng tác của ông ít nhiều bị gián đoạn. Những
năm đầu, ông công tác ở Đài Truyền thanh thị xã Châu Đốc. Năm 1980, Hội Văn
nghệ tỉnh An Giang được thành lập. Sang năm sau, Hội Văn nghệ thị xã Châu Đốc
cũng ra đời. Khi đó, ông bắt đầu tham gia vào môi trường văn nghệ mới, tích cực
cộng tác với phong trào ở địa phương. Năm 1984, ông xuất bản tập thơ Mùa trăng, như đánh dấu sự trở lại của
cái tên Trịnh Bửu Hoài trong giai đoạn mới.
Bước
sang thập niên 1980 - 1990, để đáp ứng nhu cầu độc giả trong bối cảnh các
phương tiện giải trí ít ỏi, ông đã sáng tác hàng loạt tiểu thuyết trữ tình “làm
mưa làm gió” trên thị trường sách đương thời, tiêu biểu như: Tình yêu đâu phải là trò chơi (1987), Tình yêu trong veo (1988), Nửa tuần trăng mật (1989), Hiến thân (1990), Người tình soi gương (1992), Đôi
môi hình trái tim (1994)… Giai đoạn nầy, ông là Chủ tịch Hội Văn nghệ Châu
Đốc.

Từ
năm 1999 đến năm 2011, nhà văn Trịnh Bửu Hoài là Chủ tịch Hội Văn học Nghệ
thuật tỉnh An Giang. Ngoài ra, ông còn là Ủy viên Đoàn Chủ tịch Ủy ban toàn
quốc Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam, Phó ban Công tác Hội Nhà
văn Việt Nam tại Đồng bằng sông Cửu Long… Ông cũng là hội viên Hội Nhà văn Việt
Nam, Hội Nhà báo Việt Nam, Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam, Hội Khoa học Lịch sử
Việt Nam [Nhiều tác giả 2015: 67]. Giai đoạn nầy, ông trở lại với thơ, đồng
thời viết một số tác phẩm biên khảo về lịch sử, văn hóa, di tích ở An Giang.
Sau khi về hưu, nhà văn Trịnh Bửu Hoài và gia đình cư
ngụ ở phường Vĩnh Mỹ, thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang. Ông mất ngày 8/12/2022.
3.
Sự nghiệp sáng tác của nhà văn Trịnh Bửu Hoài
Từ bài thơ đầu tiên được đăng báo vào năm 1966, các
tác phẩm của nhà văn Trịnh Bửu Hoài đã đăng trên hàng trăm tờ báo và tạp chí,
tiêu biểu như: Tin sáng, Thời đại, Tiếng nói dân tộc, Tân dân,
Trắng đen, Bình minh, Đối thoại, Sóng thần,
Sống mới, Tiếng vang, Khởi hành, Khai phá, Khuynh hướng, Văn, Văn học, Văn nghệ, Nhà văn, Văn hóa nghệ thuật, Diễn đàn
văn nghệ Việt Nam, Tác phẩm mới, Nghệ thuật, Thời văn, Mỹ thuật thời nay,
Nguồn sáng, Nhân dân, Lao động, Tuổi trẻ, Thanh niên, Sài Gòn giải phóng, Thế giới mới, Người làm báo,
Giác ngộ, Hoa đàm, Hồn Việt, Kiến thức ngày nay, Tài hoa trẻ, Áo trắng, Người Hà Nội, Xứ Thanh, Sông Thương, Sông Hương, Non Nước,
Đất Quảng, Thất Sơn, Cửu Long, Chiêu Anh Các, Bông sen, Quán văn… [Nhiều tác giả 2015: 67].
Từ tập thơ đầu tay vào năm 1974, ông đã xuất bản 63
đầu sách (in riêng), gồm: 28 quyển thơ (25 tập thơ, 2 trường ca, 1
tập thơ thiếu nhi), 29 quyển văn xuôi (3 tập truyện ngắn, 3 truyện dài,
12 tiểu thuyết, 1 truyện ký, 5 tập bút ký, 3 tập du ký, 1 tập tùy bút, 1 tập
tạp bút) và 6 quyển biên khảo. Có thể khẳng định, Trịnh Bửu Hoài là nhà
văn có số lượng sách xuất bản nhiều nhứt tỉnh An Giang từ xưa đến nay. Ngoài
ra, ông còn góp bút trong hơn 250 tuyển tập in chung nhiều tác giả.
|
THỂ
LOẠI |
SỐ
ĐẦU SÁCH |
||
|
Thơ |
Thơ |
25 |
28 |
|
Trường ca |
2 |
||
|
Thơ thiếu nhi |
1 |
||
|
Văn
xuôi |
Truyện ngắn |
3 |
29 |
|
Truyện dài |
3 |
||
|
Tiểu thuyết |
12 |
||
|
Truyện ký |
1 |
||
|
Bút ký |
5 |
||
|
Du ký |
3 |
||
|
Tùy bút |
1 |
||
|
Tạp bút |
1 |
||
|
Biên
khảo |
6 |
||
|
TỔNG
CỘNG |
63 |
||
Bảng 1: Số lượng sách xuất bản của nhà văn Trịnh Bửu Hoài
Ở
thể loại thơ, nhà thơ Trịnh
Bửu Hoài đã xuất bản 28 đầu sách, trong đó 25 tập thơ, 2 trường ca, 1 tập thơ
thiếu nhi. Thơ ông mộc mạc mà tinh tế, cảm xúc sâu lắng, da diết. Tác giả
thường sử dụng nhiều mỹ từ và hình ảnh so sánh, tuy vậy ngôn ngữ không sáo mòn
hay bi lụy, mà thể hiện tinh thần nhập cuộc, hiến dâng.
Tình yêu và tình bạn là mảng đề tài thường trực
trong thơ Trịnh Bửu Hoài, mà người đọc dễ bắt gặp ở đó những câu thơ nao lòng,
chẳng hạn: “Em huyền ảo hiện thân từ kiếp trước / Đợi chờ nhau khi trời đất
giao hòa / Em có cuộn mây hồng theo chân bước / Mà bồng bềnh khắp ngõ bóng
trăng sa” [Trịnh Bửu Hoài 2012: 37].
Đáng chú ý, ông có trường ca Giữa hai mùa hẹn ước, nói lên những đau thương của người An Giang
trong chiến tranh biên giới Tây Nam. Đó là trách nhiệm cao cả của người cầm
bút, chuyển tải đời sống - cả khổ đau lẫn hạnh phúc - của nhân dân vào trang
viết. Nhìn chung ở thể loại thơ, cái tên Trịnh Bửu Hoài như “thương hiệu” đã
định vị vững vàng trong lòng độc giả.
|
TT |
TÁC
PHẨM |
THỂ
LOẠI |
ĐƠN
VỊ |
NĂM |
GHI
CHÚ |
|
1 |
Thơ
tình |
thơ |
Khai
Phá |
1974 |
|
|
2 |
Người
hành hương tình yêu |
thơ |
Khai
Phá |
1974 |
|
|
3 |
Mùa
trăng |
thơ |
Văn
nghệ An Giang |
1984 |
|
|
4 |
Giữa
hai mùa hẹn ước |
trường ca |
Văn
nghệ Châu Đốc |
1985 |
Tái bản 2019 |
|
6 |
Anh
chỉ muốn yêu em và làm thơ |
thơ |
Văn
nghệ Cần Thơ |
1987 |
|
|
6 |
Nhớ
nhau từ một sớm mai |
thơ |
Văn
nghệ Tuy Hòa |
1988 |
|
|
7 |
Thơ
tặng riêng người |
thơ |
Văn
nghệ Châu Đốc |
1992 |
|
|
8 |
Thơ
thời áo trắng |
thơ |
Văn
nghệ Châu Đốc |
1993 |
|
|
9 |
Xứ
của yêu thương |
thơ |
Văn
nghệ Châu Đốc |
1994 |
Tái bản 1995 |
|
10 |
Quê
xa |
thơ |
Hội
Nhà văn |
1994 |
|
|
11 |
Lẽo
đẽo bụi hồng |
thơ |
Văn
học |
1995 |
|
|
12 |
Thơ
tình mùa xuân |
thơ |
Văn
nghệ Châu Đốc |
1997 |
|
|
13 |
Thơ
tình mùa hạ |
thơ |
Văn
nghệ Châu Đốc |
1997 |
|
|
14 |
Gởi
một người phương xa |
thơ |
Trẻ |
1998 |
|
|
15 |
Thơ
tình mùa thu |
thơ |
Mũi
Cà Mau |
1998 |
|
|
16 |
Thơ
tình mùa đông |
thơ |
Mũi
Cà Mau |
1998 |
|
|
17 |
Vườn
chim áo trắng |
thơ |
Văn
nghệ |
1998 |
|
|
18 |
Tứ
tuyệt mùa xuân |
thơ |
Mũi
Cà Mau |
2000 |
|
|
19 |
Ký
ức |
thơ |
Văn
nghệ An Giang |
2002 |
|
|
20 |
Ngan
ngát mùa xưa |
thơ |
Văn
nghệ |
2005 |
|
|
21 |
Thơ
Trịnh Bửu Hoài |
thơ |
Đồng
Nai |
2006 |
|
|
22 |
Khúc
trăng xưa |
thơ |
Phương
Đông |
2008 |
|
|
23 |
Tinh
sương chiều |
thơ |
Hội
Nhà văn |
2012 |
|
|
24 |
Thơ
trong nhật ký |
thơ |
Hội
Nhà văn |
2012 |
|
|
25 |
Phương
trời viễn mộng vẫn còn thơ bay |
thơ |
Thân
hữu Châu Đốc tại Hoa Kỳ |
2013 |
Tái bản 2015 |
|
25 |
Ngoài
em ra anh còn ai nữa |
thơ |
Hội
Nhà văn |
2015 |
|
|
27 |
Thơ
và tình |
thơ |
Hội
Nhà văn |
2017 |
|
|
28 |
Những
tóc dài |
trường
ca |
Khuynh
Hướng |
2021 |
|
Bảng 2: Danh mục các đầu sách thể loại thơ của nhà thơ Trịnh Bửu Hoài
Ở
thể loại văn xuôi, nhà văn Trịnh Bửu Hoài đã xuất bản 29 đầu sách, trong đó 3 tập truyện ngắn, 3
truyện dài, 12 tiểu thuyết, 1 truyện ký, 5 tập bút ký, 3 tập du ký, 1 tập tùy
bút, 1 tập tạp bút. Văn xuôi của ông đa dạng, linh động theo từng thể loại,
nhưng sắc thái chung là sự mềm mại, nhẹ nhàng trong câu chữ.
Đối với tiểu thuyết, ông chú
trọng khai thác yếu tố trữ tình. Câu chuyện thường là những cặp đôi yêu nhau nhưng
trắc trở, cuối cùng vượt qua những khó khăn và tìm thấy hạnh phúc. Ra đời trong
thập niên 1980 khi đất nước vừa bước qua cuộc chiến tranh tàn khốc, tiểu thuyết
của ông đã tiên phong kêu gọi hòa giải, hàn gắn vết thương chiến tranh bằng
tình yêu, sự bao dung (Tình yêu trong veo).
Trái lại ở truyện ngắn, nhà
văn sẵn sàng chạm vào các vấn đề gai góc của xã hội như những tiêu cực trong
công sở (Người kế thừa), sự sa đọa về
luân lý gia đình (Trong một đêm), lấy
niềm tin tâm linh để trục lợi (Cây bồ đề
trong bệnh viện), bi kịch của hôn nhân không tình yêu (Căn phòng hoa chúc cũ), nỗi khát khao tình mẫu tử (Khát vọng điên rồ)…
Ngoài ra, các thể loại bút
ký, du ký, tùy bút được tác giả thể hiện bằng lối văn mực thước mà tao nhã. Đối
với ký, các thông tin được ông khai thác và sử dụng một cách cẩn trọng và chính
xác. Trong khi đó, tùy bút của ông thể hiện những góc nhìn, chiêm nghiệm, hoài
niệm… vừa gần gũi, vừa trữ tình, khơi gợi được sự đồng cảm nơi người đọc.
|
TT |
TÁC
PHẨM |
THỂ |
ĐƠN
VỊ |
NĂM |
GHI
CHÚ |
|
1 |
48
giờ vòng quanh núi Sam |
du ký |
Văn
nghệ Châu Đốc |
1985 |
Tái bản 1987, 1987, 1991, 1994, 1995,
1996, 1998, 2001, 2003, 2004, 2006, 2014 |
|
2 |
Xóm
Lá Sen |
bút ký |
Văn
nghệ Châu Đốc |
1986 |
|
|
3 |
Con
chim tắm cát |
truyện ngắn |
Văn
nghệ Châu Đốc |
1987 |
|
|
4 |
Tình
yêu đâu phải là trò chơi |
tiểu thuyết |
Văn
nghệ Châu Đốc |
1987 |
Tái bản 1988, 1989, 1992, 2000 |
|
5 |
Tình
yêu trong veo |
tiểu thuyết |
Văn
nghệ Châu Phú |
1988 |
Tái bản 1989, 1996, 1999 |
|
6 |
Vụ
án vườn Tao Ngộ |
truyện dài |
Văn
nghệ Châu Đốc |
1989 |
Tái bản 1989, 1996, 1999, 2003, 2004,
2014 |
|
7 |
Tai
biến của tâm hồn |
tiểu thuyết |
Mũi
Cà Mau |
1989 |
|
|
8 |
Nửa
tuần trăng mật |
tiểu thuyết |
Lao
động |
1989 |
Tái bản 1993, 1999 |
|
9 |
Hiến
thân |
tiểu thuyết |
Văn
nghệ Châu Đốc |
1990 |
Tái bản 1993, 1999 |
|
10 |
Người
tình trong sân trăng |
tiểu thuyết |
Long
An |
1990 |
|
|
11 |
Địa
ngục trong ánh mắt thiên đường trong đôi môi |
tiểu thuyết |
Văn
nghệ Châu Đốc |
1991 |
|
|
12 |
Hình
sương bóng khói |
tiểu thuyết |
Tổng hợp An Giang |
1991 |
|
|
13 |
Một
chút tình xưa |
tiểu thuyết |
Long
An |
1991 |
|
|
14 |
Người
tình soi gương |
tiểu thuyết |
Văn
nghệ An Giang |
1992 |
|
|
15 |
Người
xa người |
tiểu thuyết |
Văn
nghệ An Giang |
1993 |
|
|
16 |
Đôi
môi hình trái tim |
tiểu thuyết |
Văn
nghệ Châu Đốc |
1994 |
|
|
17 |
Huyền
thoại tà áo trắng |
truyện dài |
Văn
nghệ Châu Đốc |
1995 |
|
|
18 |
Cái
đẹp của ảo tưởng |
truyện ngắn |
Đồng
Nai |
1996 |
|
|
19 |
Mùa
hội vía |
bút ký |
Văn
nghệ Châu Đốc |
1996 |
Tái bản 1999, 2002, 2006 |
|
20 |
Thầy
tôi và bạn tôi |
bút ký |
Văn
nghệ Châu Đốc |
1998 |
Tái bản 1998 |
|
21 |
Non
nước Hà Tiên |
du ký |
Văn
nghệ |
1999 |
Tái bản 2002, 2004, 2008, 2015 |
|
22 |
Lễ
vía Quản cơ Trần Văn Thành |
du ký |
Văn
nghệ An Giang |
2002 |
Tái bản 2004 |
|
23 |
Màu
tím học trò |
truyện dài |
Kim
Đồng |
2003 |
Tái bản 2007 |
|
24 |
Chim
xa cành |
truyện ngắn |
Văn
nghệ |
2004 |
|
|
25 |
Lời
của đá |
bút ký |
Văn
nghệ Châu Đốc |
2005 |
|
|
26 |
Vụn
vặt giữa đời |
tạp
bút |
Hội
Nhà văn |
2017 |
|
|
27 |
Một
cõi biên thùy |
bút
ký |
Văn
hóa Văn nghệ |
2017 |
|
|
28 |
Mùa
xuân và tuổi xuân |
tùy
bút |
Đà
Nẵng |
2021 |
|
|
29 |
Hào
khí biên thùy |
truyện
ký |
Văn
học |
2022 |
|
Bảng 3: Danh mục các đầu sách thể loại văn xuôi của nhà văn Trịnh Bửu
Hoài
Ở
thể loại biên khảo, nhà biên khảo Trịnh Bửu Hoài viết khá muộn và số
lượng tác phẩm không quá nhiều, chỉ 6 quyển. Tuy vậy, các tác phẩm của ông đều
chỉn chu, công phu, giàu giá trị.
An Giang
nói chung và Châu Đốc nói riêng là đề tài xuyên suốt các tác phẩm biên khảo của
Trịnh Bửu Hoài. Ông viết về quê nhà như trách nhiệm, đồng thời là niềm tự hào
của người con ở xứ sở “tiền tam giang, hậu thất lãnh”. Ngoài yếu tố học thuật,
tác giả còn hướng đến quảng bá các giá trị văn hóa địa phương qua du lịch. Đọc
biên khảo của ông, chúng ta có thể tìm hiểu thêm về những di tích, thắng cảnh,
lễ hội, đặc sản, danh nhân, giai thoại… ở An Giang.
Đặc biệt, Địa chí du lịch An Giang là sách giới
thiệu tổng quan về du lịch An Giang, được biên soạn công phu, thông tin đầy đủ
và chính xác, giàu giá trị. Công trình được ngành du lịch địa phương sử dụng
chính thức cho các hoạt động thuyết minh, quảng bá, xúc tiến…
|
TT |
TÁC
PHẨM |
THỂ |
ĐƠN
VỊ |
NĂM |
GHI
CHÚ |
|
1 |
Lịch
sử xây dựng và phát triển miếu Bà Chúa Xứ núi Sam |
biên khảo |
Văn
nghệ Châu Đốc |
2008 |
Tái bản 2010, 2013, 2019 |
|
2 |
Địa
chí du lịch An Giang |
biên
khảo |
Sở
Văn hoá, Thể thao và Du lịch An Giang |
2013 |
Tái bản 2018 |
|
3 |
Châu
Đốc di tích thắng cảnh và đặc sản |
biên
khảo |
Phòng
Văn hóa và Thông tin Châu Đốc |
2018 |
|
|
4 |
Thiền
viện Đông Lai dưới chân núi Cậu |
biên
khảo |
Hội
Nhà văn |
2020 |
|
|
5 |
Truyền
thuyết và giai thoại vùng biên thùy Châu Đốc |
biên
khảo |
Đà
Nẵng |
2022 |
|
|
6 |
Danh
nhân Châu Đốc |
biên
khảo |
Hội
Nhà văn |
2022 |
|
Bảng 4: Danh mục các đầu sách thể loại biên khảo của nhà biên khảo Trịnh
Bửu Hoài
Trong
quá trình sáng tác, nhà văn Trịnh Bửu Hoài đoạt Giải Nhất thể loại thơ trong
Giải Văn chương Thủ Khoa Nghĩa vào năm 1969 với bài thơ Thư cho anh, Giải thưởng Văn học Nghệ thuật An Giang 20 năm giải
phóng (1975 - 1995) vào năm 1995 với tiểu thuyết Người xa người, Giải
thưởng Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam vào năm 2000 với biên khảo Lịch sử
miếu Bà Chúa Xứ núi Sam [Nhiều
tác giả 2015: 69].
4.
Đóng góp của nhà văn Trịnh Bửu Hoài với sự phát triển văn học nghệ thuật An Giang
Nhà
văn Trịnh Bửu Hoài là Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật (sau đó là Hội Liên hiệp
Văn học Nghệ thuật) tỉnh An Giang trong hai nhiệm kỳ IV (1999 - 2005) và V
(2005 - 2011), trước đó là Ủy viên Ban Chấp hành từ nhiệm kỳ II (1987 - 1992)
về sau. Do vậy, ông có nhiều đóng góp quan trọng cho sự phát triển của nền văn
học nghệ thuật địa phương, đặc biệt trong hai thập niên đầu thiên nhiên kỷ mới.
Tuy
nhiên, lãnh vực văn học nghệ thuật có phạm vi rộng, nhiều chuyên ngành, nhiều
giác độ tiếp cận. Bởi thế, khi nói về những đóng góp của nhà văn Trịnh Bửu
Hoài, người viết khó có thể trình bày bao quát tất cả các khía cạnh. Thay vào
đó, chúng tôi tập trung vào những dấu ấn nổi bật của ông trong quá trình công
tác.
Trước
hết, không thể không nói đến những đóng góp của nhà văn Trịnh Bửu Hoài đối với
Hội Văn học Nghệ thuật thị xã Châu Đốc. Với vai trò Chủ tịch, dấu ấn nổi bật
của ông là xây dựng thương hiệu Văn nghệ Châu Đốc như một địa chỉ uy tín trong
lãnh vực xuất bản và phát hành các tác phẩm văn học nghệ thuật. Hàng loạt các
đầu sách tiểu thuyết, truyện ngắn, du ký, thơ, sưu khảo… do Văn nghệ Châu Đốc
xuất bản trong thập niên 1990 rất thu hút độc giả, góp phần quảng bá hiệu quả
cho vùng đất và con người Châu Đốc. Tiêu biểu như tập thơ Chớp bể mưa nguồn của Ngô Nguyên Nghiễm (1992), tập truyện Người đẹp chùa Hang của Nguyễn Hữu Thiện
(1993), bốn tập truyện Kỳ tích núi Sam
của Liêm Châu (1994), tập ký Lễ hội và
vía Bà Chúa Xứ núi Sam của Mai Văn Tạo (1995), tập truyện Truyền thuyết Cồn Tiên của Trình Minh
(1996), tập thơ Sao em không về như đã
hẹn của Trần Biên Thùy (1998)…
Từ
kinh nghiệm đã tích lũy và tư duy sáng tạo của bản thân, đến khi là Chủ tịch
Hội Văn học Nghệ thuật An Giang, nhà văn Trịnh Bửu Hoài tiếp tục triển khai
nhiều hoạt động đa dạng và hiệu quả, góp phần đẩy mạnh sự phát triển của văn
học nghệ thuật tỉnh nhà. Tạp chí Thất Sơn
- cơ quan ngôn luận của hội ngày càng nâng cao về số lượng và chất lượng. Từ
hai tháng một số, tạp chí tăng lên phát hành hằng tháng, mỗi số in 1000 bản,
hình thức được đổi mới. Tạp chí đã thực hiện tốt nhiệm vụ cung cấp thông tin về
hoạt động hội, giới thiệu tác phẩm của hội viên, nghiên cứu về văn học nghệ
thuật… Không chỉ vậy, nhờ uy tín và chất lượng, Thất Sơn còn vươn khỏi phạm vi địa phương, thu hút sự quan tâm cộng
tác của nhiều cây bút nổi tiếng trên cả nước.
Về
đội ngũ văn nghệ sĩ, đến hết năm 2010 -
trước khi kết thúc nhiệm kỳ V, hội có trên 300 hội viên, trong đó trên 100 hội
viên của các hội chuyên ngành trung ương [Trịnh Bửu Hoài 2010: 3]. Với lực lượng đông đảo đó, Hội Liên hiệp Văn học
Nghệ thuật An Giang đã nỗ lực thực hiện
vai trò tập hợp, đoàn kết, hỗ trợ hội viên. Hội góp phần thúc đẩy văn nghệ sĩ
sáng tạo, cho ra đời nhiều tác phẩm có tiếng vang, gặt hái nhiều thành tích nổi
bật ở các cuộc thi, từng bước định vị chỗ đứng trong khu vực và trên cả nước.
Công
tác phát triển tài năng trẻ là một trong những đóng góp quan trọng của nhà văn
Trịnh Bửu Hoài. Giải thưởng Văn chương Thủ Khoa Nghĩa được duy trì hiệu quả, qua
đó phát hiện nhiều cây bút như Võ Diệu Thanh, Nguyễn Thanh Thảo, Minh Bảo Trân,
Mai Bửu Hoàng Hưng, Phạm Phương Khánh… [Vĩnh
Châu 2007]. Năm 2007, Gia đình Áo trắng An Giang ra đời, tập hợp cộng tác viên
ở An Giang của tập san văn thơ Áo trắng,
đã trở thành môi trường ươm mầm cho nhiều tác giả như Trần Sang, Trương Chí
Hùng, Nguyễn Đức Phú Thọ, Hoàng Thị Trúc Ly, Nguyễn Ngọc Đào Uyên, Nghiêm Quốc
Thanh… [Trọng
Nhân 2017].
Mặt
khác, trong hai nhiệm kỳ IV - V, Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật tỉnh đã xuất
bản gần 300 đầu sách; tổ chức trên 100 trại sáng tác và chuyến thực tế sáng tác
với trên 1200 lượt hội viên tham gia; tổ chức triển lãm mỹ thuật, nhiếp ảnh,
thư pháp; tổ chức biểu diễn âm nhạc, kịch, đờn ca tài tử; tổ chức hội thảo, tọa
đàm, tập huấn về văn học nghệ thuật… Đặc biệt, một dấu ấn nổi bật khác của nhà
văn Trịnh Bửu Hoài là hằng năm đều tổ chức trại sáng tác xuyên Việt cho hội
viên các chuyên ngành, thường kéo dài khoảng 15 - 20 ngày với khoảng 10 - 15
hội viên tham gia. Đáng tiếc là sau đó, hoạt động nầy không còn được tiếp tục
duy trì.
Với
những đóng góp cho lãnh vực văn học nghệ thuật, nhà văn Trịnh Bửu Hoài được trao
tặng các huy chương và kỷ niệm chương: Vì sự nghiệp Đại đoàn kết dân tộc, Vì sự
nghiệp Văn hoá tư tưởng, Vì sự nghiệp Văn học nghệ thuật Việt Nam, Vì sự nghiệp
Văn nghệ dân gian Việt Nam, Vì sự nghiệp Mỹ thuật Việt Nam, Vì sự nghiệp Nhiếp
ảnh Việt Nam, Vì sự nghiệp Sử học Việt Nam, Vì sự nghiệp Báo chí Việt Nam…
[Nhiều tác giả 2015: 67].
5.
Lời kết
Nhà thơ, nhà văn, nhà biên khảo Trịnh Bửu Hoài sanh
trưởng và cầm bút từ một làng quê nghèo khó ven biên giới, trong thời kỳ chiến
tranh. Sau khi đất nước hòa bình, ông tiếp tục miệt mài sáng tạo, cho ra đời
nhiều tác phẩm giá trị. Có thể khẳng định đến nay, Trịnh Bửu Hoài là nhà văn có
số lượng sách xuất bản nhiều nhứt tỉnh An Giang. Bên cạnh đó, với vai trò là
người làm công tác quản lý, ông có nhiều đóng góp cho văn học nghệ thuật địa
phương phát triển cả chiều rộng lẫn chiều sâu. Với những thành tích đó, nhà văn
Trịnh Bửu Hoài xứng đáng được xem như một danh nhân văn hóa tiêu biểu của tỉnh
An Giang trong thời kỳ hòa bình và hội nhập.
VĨNH
THÔNG
(Bài in trong Kỷ
yếu Hội thảo khoa học cấp tỉnh: 50 năm văn học nghệ thuật An Giang
(1975 - 2025), Trường Đại học An Giang, Nxb Đại học Quốc gia TP.HCM, 2025)
_______________________
TÀI
LIỆU THAM KHẢO:
1. Ngô Nguyên Nghiễm (2022), “Trịnh Bửu Hoài, nhặt suốt đời chưa hết mùi hương”, Website Hội Nhà văn Việt Nam (https://vanvn.vn), 9/12/2022.
2. Nhiều tác giả (2015), Tuyển tập 40 năm văn học An Giang 1975 - 2015, Nxb Hội
Nhà văn.
3. Trịnh Bửu Hoài (1998), Thầy tôi và bạn tôi, Văn nghệ Châu Đốc.
4. Trịnh Bửu Hoài (2010), “Hội viên là người xây dựng hội”,
Tạp
chí Thất Sơn, số 152.
5. Trịnh Bửu Hoài (2012), Tinh sương chiều, Nxb Hội Nhà văn.
6. Trọng Nhân (2017), “Họp
mặt kỷ niệm 10 năm thành lập Gia đình Áo trắng An Giang”, Trang thông tin điện tử Tuyên giáo An Giang (https://tuyengiaoangiang.vn), 2/10/2017.
7. Vĩnh Châu (2007), “Giải
Văn chương Thủ Khoa Nghĩa - An Giang, sân chơi nghệ thuật bổ ích”, Báo điện tử Sài Gòn giải phóng (https://sggp.org.vn), 14/7/2007.
Comments[ 0 ]
Đăng nhận xét