Vào ngày rằm tháng Giêng, hàng ngàn người dân địa phương và du khách các nơi đã hào hứng tham dự lễ Cầu an Thượng nguơn [1] của miếu Âm Nhơn dưới chân núi Sam. Đây là nghi lễ có bề dầy lịch sử hàng trăm năm, thể hiện tinh thần chia sẻ và tưởng nhớ những người không may nằm xuống trong công cuộc chinh phục đất phương Nam, đồng thời phản ánh sự giao thoa văn hóa giữa các tộc người cộng cư trên vùng biên địa Châu Đốc.
Miếu Âm Nhơn nằm
ở phía Tây của núi Sam, cặp theo đường vòng chân núi, thuộc phường Núi Sam,
thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang. Ngôi miếu được người địa phương quen gọi đơn
giản là miếu Cô Hồn, vì đây là nơi thờ cúng
những vong hồn không nơi nương tựa, theo quan niệm dân gian. Miếu được
xây dựng bằng cây lá vào giữa thế kỷ XIX và trải qua nhiều lần trùng tu để có
diện mạo như ngày nay.
Về nguồn gốc ra
đời ngôi miếu, đến nay còn nhiều lý giải
khác nhau. Dân gian kể rằng, chân núi phía Tây Bắc của núi Sam có khu
nghĩa địa lớn (người địa phương gọi là khu Đất Cúng đến nay vẫn còn tồn tại),
cô hồn thường hay quấy phá người đi đường. Do đó, nhân dân lập miếu thờ cô hồn
để giữ yên bình cho làng xóm. Ý kiến khác cho rằng
ngôi miếu được Thoại Ngọc Hầu cho xây dựng để thờ vong hồn những nhân
công đã thiệt mạng trong quá trình đào kinh Vĩnh Tế. [2]
Trong khi đó,
theo Nguyễn Phước Sanh, miếu được nhân dân xây dựng khoảng trước năm 1900 để thờ
các bậc tiền nhân bỏ mình trong công cuộc đào kinh Vĩnh Tế, cùng chư vị có công
khai phá và gìn giữ biên cương phương Nam. [3] Còn theo Trịnh Bửu Hoài, miếu được
nhân dân xây dựng khoảng giữa thế kỷ XIX để thờ những cô hồn vất vưởng không
nơi nương tựa, đồng thời thờ cả những bậc tiền hiền của làng thôn. [4]
Dù còn ít nhiều khác biệt, nhưng điểm chung của các lý
giải nầy là ngôi miếu được dựng lên nhằm mục đích thờ cúng những người
đã chẳng may phải bỏ mình trên vùng đất mới,
giữa rừng thiêng nước độc và thiên tai nhân họa… Khi nằm lại nơi đất
khách quê người, họ không có người thân thờ cúng, hoặc mồ mả xiêu lạc qua thời
gian. Do đó, miếu Âm Nhơn ra đời như một nghĩa cử tri ân và tưởng nhớ mà người dân núi Sam dành cho những thế hệ đi
trước.
Hằng năm vào
ngày 15 - 16 tháng Giêng, miếu Âm Nhơn tổ
chức lễ Cầu an Thượng nguơn với nhiều hoạt động phong phú. Trong đó, thu
hút hơn cả là nghi thức Hành binh,
người địa phương thường gọi là Nghinh Ông,
diễn ra vào ngày 15. Bắt đầu từ 12 giờ trưa,
một đoàn xe sẽ từ miếu Âm Nhơn diễu hành vòng quanh núi Sam. Mặc dù
quãng đường đi chỉ khoảng 5 km, nhưng do số lượng người dân tham gia đông đảo
nên đoàn diễu hành đến khoảng 21 - 22 giờ mới trở về đến miếu. Nghi thức nầy
mang ý nghĩa là rước các cô hồn ven đường tập trung về miếu để chính thức cúng
tế vào ngày hôm sau.
Trong đoàn rước,
chiếc xe trung tâm được trang trí cờ phướn lộng lẫy, với màu sắc chủ đạo là đỏ.
Giữa xe có bàn thờ trang nghiêm, đặt bài vị Thập Vị Cô Hồn. Điểm nổi bật trên xe là ba người đàn ông sẽ hóa thân
thành ba vị Quan Công, Quan Bình, Châu Xương và có mặt theo đoàn xe
xuyên suốt hành trình. Người dân quan niệm rằng, ba vị ấy sẽ giúp dẹp trừ ma quỷ
trên đoạn đường đoàn xe đi qua, đem lại sự an lành cho dân chúng trong vùng.
Dọc hai bên đường,
những nhà dân đặt bàn hương án để cúng cô hồn, cầu bình an và xua đi những điều
xui rủi. Trên bàn ngoài nhang đèn, hoa quả,
thì còn có gạo muối. Đoàn xe đi đến nhà nào sẽ lấy những bọc gạo muối của nhà
đó mang về miếu. Chúng sẽ được sử dụng tượng trưng một ít trong lễ cúng vào
ngày hôm sau, phần còn lại sẽ được dùng để bố
thí cho người nghèo. Bên cạnh đó, mỗi gia đình gom rác xung quanh nhà lại,
chất thành đống và đặt trước cửa. Khi đoàn
xe đi qua, chủ nhà đốt đống rác và rải
muối vào, với ý nghĩa xua đuổi những điều không may.
Sáng sớm
hôm sau 16 tháng Giêng, nghi thức Chánh tế
và Tống ôn sẽ được diễn ra tại miếu.
Lễ Chánh tế mang ý nghĩa là cúng tế cho những
cô hồn đã được rước về miếu từ hôm trước, với hình thức diễn ra theo
nghi lễ cổ truyền của các đình miễu ở Nam Bộ.
Sau cùng, các cô hồn sẽ được đưa lên thuyền giấy được người dân thiết kế
đẹp mắt để làm lễ Tống ôn. Chiếc thuyền nầy sẽ được tống đi bằng hình thức hỏa
tống (đốt cháy) chứ không phải thủy tống (thả sông) như các địa phương khác.
Ở Nam Bộ, nhập đồng
ba ông Quan Công, Quan Bình, Châu Xương và diễu hành là nghi thức có nguồn gốc
từ văn hóa tộc người Hoa, được họ mang theo trong hành trình di cư đến Việt Nam. Trên thực tế ở địa bàn Châu Đốc, người Hoa đã duy trì nghi thức nhập đồng hàng
trăm năm. Ở miếu Quan Đế (phường Châu
Phú A) từng có hình thức nhập đồng
Quan Công, Quan Bình, Châu Xương suốt khoảng
hơn một thế kỷ, nhưng đã mai một khoảng 50 năm qua. Ở miếu Tam Sơn (phường Vĩnh Mỹ) có hình thức nhập đồng Tam
Sơn Quốc Vương (ba vị thần trong tín ngưỡng dân gian của người Hoa nhóm phương
ngữ Triều Châu) suốt gần hai thế kỷ và đến nay vẫn còn tồn tại. [5]
Do đó, có thể thấy hình thức nhập đồng ba ông Quan Công, Quan Bình, Châu Xương và diễu
hành trong lễ Cầu an Thượng nguơn ở miếu Âm
Nhơn chính là sự ảnh hưởng từ văn hóa
tộc người Hoa đến văn hóa tộc người Việt cộng cư trên địa bàn Châu Đốc. Ở một khía cạnh khác, việc gom rác quanh nhà và đốt bỏ khi đoàn xe đi qua, nếu
xét về mặt thực tiễn là hình thức vệ sinh môi trường. Thậm chí trong nếp
nghĩ có phần “dí dỏm” của người dân địa phương thì họ xem đây là ngày “tổng vệ
sinh” xung quanh núi Sam. Tập tục nầy đã thể hiện tri thức bản địa của cư dân
trong ứng xử với môi trường.
Tóm lại, vượt
qua những rào cản khác biệt về văn hóa, giá trị chung mà các tộc người hướng đến
vẫn là tinh thần tri ân và chia sẻ đến người còn lẫn kẻ mất, trên vùng đất mà mình đang sinh cư lập nghiệp. Mặt khác, họ
không chỉ đề cao những giá trị mang tính lý tưởng, mà còn quan tâm đến những nhu cầu thiết thực của đời sống hằng
ngày như bình an, sức khỏe, may mắn, phát đạt…
VĨNH THÔNG
(Bài đăng trên Tạp chí Kiến thức ngày nay, số
1101, 2021 & in
trong sách
Tín ngưỡng dân gian của người Hoa ở Châu Đốc, Nxb Lao động, 2025)
_____________
CHÚ THÍCH:
1. Nguơn: Biến âm của từ “nguyên” ở một số địa phương tại
Tây Nam Bộ (vần “uơn” chứ không phải “ươn” như nhiều tài liệu nhầm
lẫn), thành phố Châu Đốc cũng có địa danh phường Vĩnh Nguơn.
2. Tư liệu khảo sát thực tế của tác giả (2017).
3. Nguyễn Phước Sanh (2018), “Miếu Âm Nhơn”, trong Ngô
Nguyên Nghiễm, Chân dung văn nghệ sĩ qua
góc nhìn Ngô Nguyên Nghiễm, Quyển Hạ, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội, tr. 964.
4. Trịnh Bửu Hoài (2018), Châu Đốc - Di tích thắng cảnh và đặc sản, Phòng Văn hóa và Thông
tin TP. Châu Đốc, tr. 92.
5. Vĩnh Thông (2018), “Nghi thức nhập đồng của người Hoa ở Châu Đốc, trong Nhiều tác giả, Kỷ yếu Hội thảo quốc tế: Triết lý nhân sinh của người dân Nam Bộ, Tập 2: Văn hóa tổ chức đời sống, Nxb Đại học Cần Thơ, tr. 60-62.
Comments[ 0 ]
Đăng nhận xét