“Kem bao giấy đây… kem bao giấy đây…”
Cứ đều đặn mỗi ngày, tiếng rao ấy lại cất lên trước nhà tôi vào ban trưa bỏng nắng. Mặc cho những dòng xe đang lũ lượt ngược xuôi trên con đường cửa ngõ vào thành phố, mặc cho tiếng còi inh ỏi từ bến phà lúc nào cũng chật ních người đợi sang sông, tiếng rao nhỏ nhoi và khản đục ấy vẫn bền bỉ cất lên. Bền bỉ như chính người chủ nhân già nua của nó, ngày ngày vẫn miệt mài, cộc cạch đạp chiếc xe cũ kỹ trên những nẻo đường gian khó.
Tiếng rao không chỉ cất lên vào buổi
trưa trên con đường nơi tôi đang sống, mà còn cất lên vào buổi sáng, buổi chiểu,
buổi tối, thậm chí là tận khuya ở biết bao ngả đường khác khắp thành phố nhỏ miệt
sông nầy. Đối với nhiều người, thanh âm ấy đã trở thành quen.
Quen là vậy, nhưng tôi chưa từng nghĩ
rằng có một ngày mình có dịp nói chuyện với ông già bán kem ấy. Vậy mà hôm nay
trong quá ăn nầy, tình cờ tôi lại ngồi bên cạnh ông. Trước mắt tôi, một cụ già
có bộ quần áo lấm lem bởi gió bụi đường xa, làn da khô khốc và sậm đen màu nắng,
duy chỉ có nụ cười trên gương mặt thì lúc nào cũng hiền từ như ông Bụt. Ông đang
ngồi trước mắt tôi đây, rất thật!
Tôi chuyển nhà đến khu nầy đã khoảng hơn
một tháng. Ngôi nhà vừa mua nằm ngay mặt tiền của con đường chính đi vào trung
tâm thành phố, chếch góc không xa là bến phà qua sông Hậu. Trong khi đó, nơi ở
cũ của gia đình tôi vốn thuộc vùng nông thôn, nhưng thực tế thì nông thôn chả
ra nông thôn mà thành thị cũng chưa phải thành thị, cứ nửa phố nửa quê. Ấy vậy
mà đã quen, bởi thế sau khi chuyển hẳn ra phố, tôi không tránh khỏi ít nhiều bỡ
ngỡ. Mặc dầu trước đó, tôi đã từng làm việc ở thành phố nầy trong thời gian
dài, hằng ngày đều mấy lượt đi về giữa cơ quan và nhà. Song, quen như một phần
trong nếp sống là một lẽ, còn việc dọn đến ở hẳn nơi đây lại là một lẽ khác. Ngày
trước ở nhà cũ, tôi chỉ tiếp xúc với nếp sống đô thị bộn bề vào ban ngày, ban
đêm vẫn là không gian yên tĩnh của làng quê. Trái lại giờ đây, hầu như mọi lúc
tôi đều bị cuốn vào guồng quay cực nhanh của thành phố trẻ, một khoảng lặng
dành riêng cho tâm hồn sao khó quá chừng.
Từ những ngày đầu sinh sống tại nơi ở
mới, hình ảnh ông già bán kem ấy đã thu hút sự chú ý của tôi, đến độ dần trở
nên ám ảnh. Song, trước tiên là âm thanh. Cứ đều đều mỗi trưa, tiếng rao “kem
bao giấy đây” lại vang dài giữa vô vàn thanh âm hỗn tạp trên lòng đường. Sau
này tôi mới biết, tiếng rao vang lên mỗi trưa đã trở thành một chi tiết rất
bình thường trong biết bao buổi trưa ngập nắng ở thành phố này, suốt mấy chục
năm qua. Chẳng những vậy, có khi ông cụ đi bán đến tối, thậm chí miệt mài trên
đường tận khuya nếu chưa bán hết.

Tôi tình cờ biết được điều đó trong một
lần đi công tác xa, về đến bến phà đã gần mười giờ tối. Trong lúc ngồi chờ chiếc
phà lướt qua dòng sông đêm thăm thẳm, tôi chợt bắt hình ảnh quen thuộc mà mình
từng gặp hằng ngày. Ông ngồi ở một góc trên băng ghế dành cho hành khách, đầu
và lưng tựa vào thân phà, ngủ gật gà. Trước mặt ông vẫn là chiếc xe đạp cũ kỹ có
gắn kèm theo thùng kem nhỏ. Chợp mắt chốt lát, ông đã vội vàng đứng dậy và tiếp
tục cất tiếng rao ám ảnh. Có lẽ ông cụ quá mệt mỏi sau cả ngày dài đạp xe đi
bán, nhưng trong đầu vẫn tự nhắc nhở rằng công việc của một ngày bươn chải vẫn
chưa hoàn tất, nên không ông dám nghỉ ngơi lâu hơn. Một vài người khách đến mua
ủng hộ vì thương cho hoàn cảnh ông cụ. Khi họ đưa tiền, mắt ông đã mờ nên không
nhìn rõ, ông phải hỏi khách đã đưa bao nhiêu để biết mà thối lại. Bàn tay gầy
guộc của ông run run - loại bàn tay sinh ra không dành để cầm nắm hạnh phúc.
“Tui tên
là Trần Văn Siêng.”
Đó là
câu giới thiệu đầu tiên của ông. Nói xong, ông cười hề hề…
“Ông bà
mình nói, cái tên gắn liền với số phận, cô tin hông? Nói giỡn thôi, tui không
siêng cũng không được… bởi vì nghèo quá mà! Làm biếng thì lấy gì sống? Trời bắt
mình siêng thì mình phải siêng thôi cô ơi!” Ông cụ nói rồi lại cười.
Ông cụ
khi nhớ khi quên, đôi tai cũng đã kém, nên câu chuyện giữa tôi và ông đôi khi đứt
quãng giữa chừng. Tôi cố gắng thu lượm và ráp nối từng mảnh vỡ mà ông bày ra. Vậy
đó, tôi đã mò mẫm trong dòng hồi ức của ông để xuôi xuôi về miệt Cái Răng, nơi
ông từng sống với một gia đình nghèo khó.
* * *
Để tui kể
cô nghe, ba má tui là dân Cái Răng à nghen! Cái Răng ở Cần Thơ đó, cô biết hông?
Nói nào ngay, cũng hổng phải! Gốc gác dòng họ tui ở tuốt miệt Sóc Trăng, nghèo
khổ quá nên ba má lên Cần Thơ kiếm việc làm, rồi sanh ra anh em tui. Thành thử
ra, tui sống ở Cái Răng từ nhỏ tới lớn. Tui lấy vợ lúc gần ba mươi tuổi, từ đó
bắt đầu đi bán kem tới bây giờ luôn, ngót nghét cỡ năm chục năm rồi chớ ít đâu.
Vợ tui hả?
Trời ơi, bả mất lâu rồi cô ơi! Đâu cỡ hai chục năm trước lận, khi đó tui còn ở
dưới Cái Răng mà. Người ta nói “sanh nghề tử nghiệp” quả không sai, cô há? Vợ
chồng tui mần ăn trên sông nước, cuối cùng bả chết vì sông nước.
Có gì lạ
đâu cô? Bữa đó, hai vợ chồng ra tới Vàm Xáng mới ba giờ khuya, tự nhiên bão dữ
quá, dưới sông thì nước chảy mạnh. Tui với bả ráng giữ cái xuồng, nhưng gió quật
làm sao mà bả trợt té xuống nước. Giấc đó trời tối hù, đèn đuốc tắt hết, có thấy
đường thấy sá gì đâu, bởi vậy bả té hồi nào không hay luôn, mà thí dụ bả có kêu
cứu chắc tui cũng hổng nghe. Phải chi…
Biết lội
chớ cô! Ngặt nỗi, bữa đó nước dữ quá, chắc sức bả chịu hổng nổi, mới bị cuốn
đi. Người ta nói bả bị ma da kéo giò, chớ biết lội mà sao chết chìm được. Tui
cũng hổng biết sao! Thôi thì… trời kêu ai nấy dạ!
Bả chết
rồi, tui vừa buồn chán cuộc đời, vừa không còn người thân để về, nên bỏ xứ ra đi.
Lang thang riết rồi dạt lên tới miệt núi nầy. Bây giờ tui sống một mình hà, mướn
nhà trọ trên cầu Lò Heo đó, cô biết chỗ đó hông? Ừ đó, cứ chạy thẳng tới đường
rẽ dưới chân cầu, rồi quẹo trái vô.
Tui có
chiếc xe đạp cà tang này nè, người ta xài cũ rồi cho lại tui, nhờ nó mà đi buôn
bán kiếm sống qua ngày. Mỗi ngày tui lấy khoảng một trăm cây kem, đi bán từ
sáng sớm tới khi nào hết thì về. Nhiều bữa đi tới chín mười giờ đêm nghen, vậy
mà có khi cũng hổng hết… Đi tiếp chớ sao! Có hôm tui đi bán tới khuya, mệt thì
kiếm ghế đá ngủ gục một lát, giựt mình thức dậy thì lủi thủi đạp xe đi tiếp. Nếu
tính ra, đạp xe từ sáng tới tối chắc cỡ năm sáu chục cây số. Mình ráng đi vậy,
chớ thiệt ra không phải ngày nào cũng hết. Có khi chạy tới khuya, giở thùng kem
ra thì kem tan thành nước hết rồi!
Lời lóm
gì bao nhiêu cô ơi, cái nghề này mà! Mỗi ngày còn phải ăn uống, tới tháng phải
trả tiền trọ, tiền điện, tiền nước, tiền thuốc men khi bịnh tật…
Vậy mà,
tui cũng có tiền để dành nghen cô! Làm chi hả? Trời ơi, tui già rồi, sợ chết
chóc gì nữa đâu. Để dành tiền là để về quê! Ừ, đúng là tui không còn ai thân
thích ở dưới đó, nhưng nói nào ngay, hồi xưa tui có hai đứa con gái, mà bây giờ…
hổng biết sống chết ra sao. Đứa lớn tên Trần Thị Kim Liên, đứa nhỏ tên Trần Thị
Kim Thảo, hồi đó bả mê cải lương nên đặt tên tụi nhỏ theo mấy vai trong tuồng
hát đó. Năm bảy mươi tám, tụi nó vượt biên, rồi mất tin luôn tới bây giờ. Hồi
lúc đi, tụi nó còn nhỏ, mình gởi quá giang theo người ta thôi, chớ đâu có vàng
vòng gì đem theo. Chắc tụi nó hổng chết đâu, hén cô?
Tui đi
bán vầy nè, rồi dò chừng hỏi thăm tụi nó hoài à, coi biết đâu có ai tình cờ gặp
được. Vậy mà bốn chục năm rồi… Bây giờ tui dành dụm tiền, để về quê kiếm tụi
nó. Hổng chừng tụi nó đã về quê rồi và đang kiếm tui. Thời gian của tui… hổng
còn nữa cô ơi!
* * *
Ông già
vừa nói vừa cười hề hà, cứ như chẳng có bao cô độc đang vây quanh. Vậy mà, cái
cười nghe sao chua xót.
“Cô có
biết vì sao quê tui kêu là Cái Răng hông? Để tui kể cô nghe…”
Vậy là ông kể. Tôi nghe như cảm nhận
rằng như ông đang dẫn dắt mình vào thế giới tuổi thơ đầy huyền thoại. Ngày xưa,
miệt Cần Thơ có một con cá sấu to lớn, hoành hàng khắp xóm làng, làm hại nhiều
người dân vô tội. Vì thế, dân chúng quyết tâm diệt trừ nó. Có một điều lạ, con
sấu ấy lại mê coi hát bội. Mỗi khi chỗ nào có hát bội, nó lại trườn lên bờ nằm
coi. Biết được đặc điểm ấy, dân làng mời một đoàn hát bội nổi tiếng đến hát
trong mấy ngày liền, đồng thời lập kế hoạch vây bắt con cá sấu. Sau khi bắt được,
mọi người giết con sấu để trả thù cho bao người thân đã chẳng may bị nó làm hại.
Xác con sấu trôi đi khắp nơi, chỗ bộ da con sấu trôi đến trở thành địa danh Cái
Da, chỗ đầu con sấu dạt vào bờ trở thành địa danh Đầu Sấu, chỗ răng con sấu rơi
vãi trở thành địa danh Cái Răng.
Tôi thầm nghĩ về miệt Cái Răng. Nơi
đó, mình đã từng đi qua biết bao lần, nằm cách nơi chúng tôi đang sống chưa đầy
nửa ngày đi xe, nhưng đối với ông cụ lại là một chốn quá xa xôi mà ông luôn hướng
về. Bỗng dưng ông cụ cất tiếng hò với giọng khàn
đục yếu ớt:
“Cái Răng, Ba Láng,
Vàm Xáng, Phong Điền
Anh có thương em thì cho bạc cho tiền
Đừng cho lúa gạo xóm giềng cười chê”
Ông lại cười hề hề
thật tự nhiên, để lộ ra hàm răng chỉ còn lưa thưa vài chiếc. Nhưng rồi, ông khựng
lại khi có mấy tiếng chim vừa cất lên phía ngoài sông. Trầm ngâm, ông hỏi:
“Cô biết con chim gì
kêu hông?”
Tôi khẽ khàng lắc đầu,
ông nói:
“Bìm bịp kêu nước lớn
ai ơi… Buôn bán không lời chèo chống mỏi mê.”
Câu dân ca đó bỗng
bưng làm tôi xốn xang nỗi nhớ quê da diết. Nhớ cái xóm nghèo dọc theo mé kinh với
những căn nhà lụp xụp. Nhớ bà ngoại, má, mấy anh chị em cùng trang lứa… và những
ngày tháng yên bình. Còn ông, có phải cũng đang để mặc cho hoài niệm của mình
chảy tràn về miền sông nước Cái Răng?
Cuộc gặp gỡ bất chợt
của tôi và ông tại quán ăn ven đường chỉ có vậy. Nhờ đó, tôi hiểu thêm nhiều điều
về ông già bán kem mà mỗi ngày mình đều bắt gặp. Nhưng, biết để làm gì, tôi
cũng chẳng rõ. Giữa thành phố tấp nập nầy, tôi và ông như những cánh bèo có
duyên hạnh ngộ, vậy rồi mỗi người lại trôi nổi về một phương trời riêng. Có
chăng, điều còn sót lại là chút đồng cảm về một thân phận, nhưng rồi cũng nhanh
chóng quên đi. Bao con người đã từng bị thời gian lãng quên…
Ông già vừa rời khỏi quán chưa lâu,
trời bắt đầu đổ mưa rả rít. Trên sông, những bong bóng nước nổi phập phồng - phập
phồng như cuộc đời ông. “Kem bao giấy đây… kem bao giấy đây…” Tôi nghe rất rõ tiếng
rao vẫn còn đọng lại đâu đây chút âm vang giữa lòng thành phố trẻ, như đã từng suốt
mấy chục năm qua.
Năm nay, ông già đã tám mươi.
VĨNH THÔNG
(Tác phẩm đăng trên Báo Giác ngộ, số 1160, 2022)
Comments[ 0 ]
Đăng nhận xét